|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH Bản án số: 28/2025/DS-ST Ngày: 26-12-2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng
Ông Vũ Anh Tuấn
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/QĐ-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Trung K, sinh ngày 04-4-1974; nơi đăng ký thường trú: số I đường T, phường K, tỉnh Bắc Ninh; số căn cước công dân: [...]. Có mặt tại phiên toà.
2. Bà Nguyễn Thị Hải A, sinh ngày 01-01-1978; Nơi đăng ký thường trú: số I đường T, phường K, tỉnh Bắc Ninh; số căn cước công dân [...]; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung K, sinh ngày 04-4-1974; nơi đăng ký thường trú: số I đường T, phường K, tỉnh Bắc Ninh. Theo văn bản uỷ quyền ngày 15 tháng 10 năm 2025. Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông Hoàng Công M, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố số B L, phường L, thành phố N (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Số căn cước công dân [...]. Vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 30-7-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A thống nhất trình bày:
Giữa vợ chồng ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A và ông Hoàng Công M có mối quen biết. Do cần tiền để làm ăn nên anh Hoàng Công M có hỏi vợ chồng ông K để vay tiền. Sau khi vợ chồng bàn bạc và thống nhất ông K và bà Hải A đã cho ông M vay các lần như sau:
- Ngày 23-9-2023 vợ chồng ông K cho ông M vay số tiền 400.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản mang tên NGUYEN TRUNG KIEN số tài khoản 0983909389 tại Ngân hàng thương mại cổ phần H, chi nhánh B sang số tài khoản mang tên HOANG CONG MANH số tài khoản 856706668 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nội dung chuyển khoản “Em K chuyển khoản cho anh M vay”. Số tiền này ông M chuyển lại cho ông K 100.000.000 đồng cùng ngày. Số tiền còn nợ lại là 300.000.000 đồng.
- Ngày 28-9-2023 vợ chồng ông K tiếp tục cho ông M vay số tiền 450.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản mang tên NGUYEN TRUNG KIEN số tài khoản 0983909389 tại Ngân hàng H, chi nhánh B sang số tài khoản mang tên HOANG CONG MANH số tài khoản 856706668 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nội dung chuyển khoản “Em K chuyển khoản cho anh M vay”.
- Ngày 04-10-2023 vợ chồng ông K tiếp tục cho ông M vay số tiền 150.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản mang tên NGUYEN TRUNG KIEN số tài khoản 0983909389 tại Ngân hàng H, chi nhánh B sang số tài khoản mang tên HOANG CONG MANH số tài khoản 856706668 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nội dung chuyển khoản “Em K chuyển khoản cho anh M vay”.
- Ngày 14-10-2023 vợ chồng ông K tiếp tục cho ông M vay số tiền 350.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản mang tên NGUYEN THỊ HAI ANH số tài khoản 100886126686 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C, chi nhánh B sang số tài khoản mang tên HOANG CONG MANH số tài khoản 856706668 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Nội dung chuyển khoản “Nguyễn Thị Hải A chuyển tiền cho anh M vay”.
- Ngày 10-11-2023 vợ chồng ông K tiếp tục cho ông M vay số tiền 320.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản của con gái là mang tên NGUYEN LAN PHUONG số tài khoản 04205197701 tại Ngân hàng thương mại cổ phần T sang số tài khoản mang tên HOANG CONG MANH số tài khoản 856706668 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q tuy nhiên không ghi nội dung chuyển khoản. Nguồn gốc số tiền chuyển khoản là của vợ chồng ông K nhờ con gái tôi chuyển hộ.
2
Tổng số tiền vợ chồng ông K đã chuyển khoản cho ông Hoàng Công M là 1.570.000.000 đồng (một tỷ năm trăm bảy mươi triệu đồng). Toàn bộ các lần cho ông M vay đều có vấn tin sao kê tài khoản từ ngân hàng. Ông K và bà Hải A xác nhận, việc vợ chồng ông K cho ông M vay không có thời hạn và không có lãi suất.
Sau nhiều lần yêu cầu ông M trả nợ toàn bộ số tiền trên nhưng ông M đều không hợp tác. Đến thời điểm tháng 12 năm 2023 ông M có hứa trả toàn bộ nợ gốc cho vợ chồng ông K nhưng cho đến nay vẫn chưa thanh toán toàn bộ nợ gốc. Vì vậy vợ chồng ông K đề nghị Tòa án khu vực 7 - Ninh Bình xem xét giải quyết: Buộc ông Hoàng Công M phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông K toàn bộ số tiền nợ gốc còn nợ là 1.570.000.000 đồng. Vợ chồng ông K xác nhận không yêu cầu ông M phải có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm thanh toán. Ngoài ra còn yêu cầu Tòa án buộc ông M phải chịu nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Hoàng Công M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, giấy triệu tập, bản phô-tô các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn nộp và do Tòa án thu thập, đã được Tòa án thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ có liên quan đến tranh chấp nhưng ông M không có quan điểm trình bày về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A và không cung cấp các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.
3. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 11 năm 2025 người làm chứng là chị Nguyễn Lan P trình bày: Chị Nguyễn Lan P xác nhận chị là con gái của ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A và không có mối quan hệ hay quen biết với ông Hoàng Công M có địa chỉ như trên. Chị P xác nhận vào ngày 10-11-2023 chị P được bố mẹ chị là ông K và bà Hải A cho biết cần chuyển khoản cho người một người bạn vay tiền với số tiền 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng) nhưng do số tiền trong tài khoản của bà Hải A không đủ nên có nhờ chị P chuyển khoản hộ. Vì vậy, chị P đã thực hiện việc chuyển khoản làm hai lần, lần 1 chuyển khoản 200.000.000 đồng, lần 2 chuyển khoản 120.000.000 đồng với nội dung “Nguyen Thi Hai Al ck” sang số tài khoản 856706668 mang tên HOANG CONG MANH. Chị P xác nhận sau khi chuyển khoản theo đề nghị của bà Hải A thì một thời gian sau bà Hải A đã trả lại bằng tiền mặt số tiền chị P. Chị P xác nhận hiện tại ông M vẫn chưa trả bà Hải A toàn bộ số tiền 320.000.000 đồng.
4. Đại diện Viện kiểm sát khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
Về nội dung tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc ông Hoàng Công M phải trả cho ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A tổng số tiền nợ gốc là 1.570.000.000 đồng. Ngoài ra ông Hoàng Công M còn phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 30-7-2025 thì ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Công M phải trả số tiền đã vay theo các lần chuyển khoản giữa hai bên. Nội dung các lần chuyển khoản có ghi mục đích chuyển khoản cho ông M vay. Do vậy vụ án được xác định là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản.
1.2.Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào các lần chuyển khoản bị đơn là ông Hoàng Công M có địa chỉ nơi cư trú là: tổ dân phố số B L, phường L, thành phố N (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Do vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
1.3. Về người tham gia tố tụng:
Bị đơn là ông Hoàng Công M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa nhưng vắng mặt 02 lần không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1.Về nợ gốc: Nguyên đơn ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A yêu cầu bị đơn ông Hoàng Công M phải trả tổng số tiền vay là 1.570.000.000 đồng. Qua các chứng cứ, tài liệu nguyên đơn giao nộp, thu thập trong quá trình
4
giải quyết vụ án. Xét thấy, vào các ngày 23-9-2023, ngày 28-9-2023; ngày 04-10-2023; ngày 14-10-2023 và ngày 10-11-2023 bị đơn ông Hoàng Công M có vay của ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A tổng số tiền 1.570.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua ngân hàng có các sao kê tài khoản của các ngân hàng kèm theo đơn khởi kiện và đều ghi rõ nội dung chuyển khoản. Việc xác lập hợp đồng vay bằng hình thức chuyển khoản tại Ngân hàng giữa các đương sự dựa trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Công M cũng không xuất trình hoặc giao nộp các tài liệu, chứng cứ về việc đã thanh toán tiền gốc cũng như không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A. Buộc ông Hoàng Công M có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A tổng số tiền nợ gốc là 1.570.000.000 đồng (một tỷ năm trăm bảy mươi triệu đồng).
2.2. Về lãi suất: Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A xác nhận việc cho ông Hoàng Công M vay không có thời hạn và không có lãi suất. Do đó, Hợp đồng vay giữa vợ chồng ông K, bà Hải A với ông M được xác định là hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự nên bên vay là ông Hoàng Công M không phải trả lãi. Theo trình bày của nguyên đơn, đến tháng 12 năm 2023 ông M có hứa trả nợ nhưng không thực hiện, hiện tại ông K và bà Hải A cũng không yêu cầu ông Hoàng Công M phải trả lãi chậm thanh toán từ thời điểm tháng 01 năm 2024 cho đến thời điểm xét xử. Đây là sự tự nguyện của ông K và bà Hải A nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
2.3. Về các yêu cầu khác của nguyên đơn:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Công M phải tiếp tục chịu nghĩa vụ trả lãi nếu chậm thi hành án. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định cụ thể như sau:
Do được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 29.550.000 đồng đã nộp khi khởi kiện sẽ được trả lại toàn bộ.
Ông Hoàng Công M nghĩa vụ trả nợ nên sẽ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền nợ gốc phải trả là 1.570.000.000 đồng. Cụ thể án
5
phí phải nộp là: 36.000.000 đồng + 3% (1.570.000.000 đồng - 800.000.000 đồng) = 59.100.000 đồng (năm mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A.
Buộc ông Hoàng Công M phải trả nợ cho ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A số tiền nợ gốc là 1.570.000.000 (một tỷ năm trăm bảy mươi triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Hoàng Công M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Hoàng Công M phải nộp 59.100.000 đồng (năm mươi chín triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A số tiền tạm ứng án phí 29.550.000 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số 0001412 ngày 08 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
3. Quyền kháng cáo:
Ông Nguyễn Trung K và bà Nguyễn Thị Hải A có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Hoàng Công M có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
6
quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Kim Huế |
7
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Thị Kim Huế
8
9
Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 28/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Nguyễn Trung Kiên và anh Hoàng Công Mạnh
