Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2026/DS-PT

Ngày: 26/01/2026

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Sơn

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Anh

Bà Mai Vương Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2025/TLPT-DS ngày 14/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự số 369/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 387/2025/QĐPT-DS ngày 24/11/2025; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 473 /2025/QĐPT-DS ngày 09/12/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà phúc thẩm số 504/TB-TA ngày 28/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân L; sinh năm: 1966 và bà Trần Thị N, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: 1 đường Y, tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh ĐăkLăk (nay là phường B, tỉnh Đăk Lăk).
    • + Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Văn C; sinh năm 1985; Địa chỉ Số nhà E đường A, Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh ĐăkLăk). (Theo Giấy ủy quyền ngày 10/12/2024). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
    • + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Khắc D- Luật sư thuộc Công ty L1 và Cộng sự Chi nhành Ban Mê T thuộc Đoàn Luật sư H; Địa chỉ: A đường Y, phường B, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Mai Đình S; Địa chỉ: Số 1 đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng).
    • + Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Chế Giang S1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số G đường N, quận T, thành phố Đà Nẵng (nay là phường T, thành phố Đà Nẵng). (Theo Giấy ủy quyền ngày 31/3/2025). Có mặt.
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị N; bị đơn ông Mai Đình S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Văn C trình bày:

Do mối quan hệ anh em họ hàng thân thiết nên ông Mai Đình S có đến nhà để hỏi ông Nguyễn Xuân L (tên gọi khác là S2) và bà Trần Thị N mượn số tiền 800.000.000₫ (Tám trăm triệu đồng), mục đích mượn tiền để mua xe ô tô; Thời hạn vay thỏa thuận là khi nào vợ chồng ông L cần thì báo trước cho ông S 10 (mười) ngày thì ông S sẽ thu xếp trả. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 10%/ năm. Ngày 04/7/2016 tại nhà ông L và bà N, ông Mai Đình S viết một giấy mượn tiền với nội dung “Em tên: Mai Đình S, đại diện Công ty cổ phần T2 có mượn vợ chồng anh S2 số tiền là 800.000.000 đồng, B chữ: (T1 trăm triệu đồng), Lý do: Mua xe ô tô Maxda CX5 để phục vụ đi lại công tác. Số tiền trên khi nào vợ chồng anh S2 cần thì em sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại cho vợ chồng anh chị trong vòng 10 ngày (kể từ ngày vợ chồng anh chị báo)".

Trong quá trình mượn tiền, ngày 05/10/2018 ông S đã trả được cho ông L, bà N số tiền 200.000.000đ, trong đó trả tiền lãi là 179.280.000đ và 20.720.000đ tiền gốc. Số tiền gốc còn lại là 779.280.000đ. Ngày 17/10/2019 trả 50.00.000đ; Ngày 26/10/2020 trả 100.000.000 đ và ngày 02/12/2020 trả 50.000.000 đ, cụ thể: trả lãi tính từ ngày 06/10/2018 cho đến ngày 02/12/2020 là 23 tháng 26 ngày 154.369.000đ và trả tiền gốc là 45.631.000đ. Số tiền gốc còn lại là 733.649.000₫ (Bảy trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Số tiền còn lại 733.649.000đ, kể từ năm 2020 cho đến nay ông S không thực hiện nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi cho ông L, bà N theo thỏa thuận. Vì vậy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà N.

Vậy, nay ông L, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Về tiền gốc vay: Buộc ông Mai Đình S phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân L và bà Trần Thị N số tiền 733.649.000đ (Bảy trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
  • - Về tiền lãi: Tiền lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025, cụ thể: 733.649.000₫ x 10%/năm (0,83%/tháng) x 57 tháng =349.308.000₫ và tiếp tục phải trả tiền lãi trên số tiền gốc vay kể từ ngày 16/9/2025 cho đến khi trả xong nợ.

Tổng cộng, ông Mai Đình S phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Xuân L và bà Trần Thị N số tiền là 1.082.957.000đ (Một tỷ không trăm tám mươi hai triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn đồng).

* Tại bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay đại diện bị đơn ông Chế Giang S1 trình bày:

Thông qua mối quan hệ bà con xa ông S1 biết ông Nguyễn Xuân L (tên gọi khác là S2), là chỗ thân tình và được sự quảng bá và để phát kinh doanh tại tỉnh Đăk Lăk, ông S1 với tư cách giám đốc đại diện pháp luật đã thành lập Văn phòng của Công ty CP T2 địa điểm đặt tại nhà ông L, vì điều kiện địa lý công ty ở xa, việc đi lại khó khăn ông S1 và Công ty cần tiền để mua xe Maxda CX5 với giá thời điểm 2016 là 1.250.000.000đ, lúc này Công ty chỉ có khoảng 425.000.000đ, nên ông S1 đã mượn ông L tiền.

Ngày 04/07/2016, ông S1 có mượn 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) của ông S2, và ông S1 có viết cho ông S2 một Giấy mượn tiền có nội dung “Với lý do là vay mua xe ô tô Maxda CX5 để phục vụ đi lại công tác, khi nào vợ chồng anh S2 cần ông S1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho vợ chồng anh chị trong vòng 10 ngày kể từ ngày anh chị báo”, ông S1 rất cảm kích tấm lòng của ông S2 khi Công ty K và ông S2 cho ông S1 mượn không có lãi suất, Chiếc xe ô tô Maxda CX5 ông S1 đã này phục vụ công việc cho Công ty. Sau khoảng một thời gian, ông S2 thông báo cho ông S1 là cần khoản tiền trong tổng số tiền đã cho ông S1 mượn, thì ông S1 luôn nhận thức việc mượn tiền và luôn trả tiền theo đúng những đợt theo yêu cầu của ông S2, cụ thể ông S1 đã trả được 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) theo 5 đợt, thời gian số tiền như sau:

  • Đợt 1 ngày 13/05/2017 với số tiền là 100.000.000đ;
  • Đợt 2 ngày 06/10/2018 với số tiền là 200.000.000đ;
  • Đợt 3 ngày 17/10/2018 với số tiền là 50.000.000đ;
  • Đợt 4 ngày 26/10/2020 với số tiền là 100.000.000đ;
  • Đợt 5 ngày 02/12/2020 với số tiền là 50.000.000đ.

Trong 05 đợt ông S1 trả tiền cho ông S2 ông S1 đều đưa cho ông S2 bằng tiền mặt và ghi chép vào số cá nhân, số tiền 500.000.000đ ông S2 có xác nhận qua tin nhắn zalo và file ghi âm ngày 30/03/2025.

Chính vì vậy, ông S1 luôn ý thức còn nợ ông S2 số tiền là 300.000.000đ trong tổng số tiền ông S1 đã mượn, tuy nhiên thật ngỡ ngàng, bàng hoàng ngày 15/07/2022 ông S2 yêu cầu ông S1 phải trả số tiền 976.000.00₫, không hiểu ông S2 lấy con số nợ từ đâu để đòi, nên ông S1 và công ty CP T2 chưa thực hiện trả cho ông S2

Bên cạnh đó Công ty CP T2 đang lúc khó khăn đang khắc phục tài chính sau khi dịch bệnh covid-19 xảy ra, và cũng chỉ có một dự án Khu vui chơi giải trí thể thao M, tin tưởng Công ty đã ủy quyền phó giám đốc điều hành giao giấy tờ pháp lý bản gốc cho ông S2, tuy nhiên hiện nay ông S2 lợi dụng ủy quyền cất giữ giấy tờ này không bàn giao lại cho kế toán và Công ty CP T2 càng thêm khó khăn hơn.

Thêm vào đó ông S2 tự ý đưa người vào ở và kinh doanh khi dự án chưa được hoàn công, Công ty CP T2 đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông S2 không hợp tác và luôn yêu cầu việc chưa phù hợp ông S1 phải trả số tiền 976.000.000đ. Ông S1 và Công ty CP T2 luôn hiểu rõ quy định có mượn, có trả và cũng rất trân quý, biết ơn hành động cho mượn tiền của ông S2 khi ông S1 khó khăn nhưng việc ông S2 yêu cầu khởi kiện đòi nợ ông S1 mơ hồ thật, phủi nhận, quên sự hợp tác suốt nhiều năm của ông S1, đưa ra những căn cứ thiếu khách quan, chưa phù hợp, không đúng theo quy định, từ đó khẳng định nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Xuân L với ông S1 là hoàn toàn chưa đúng cả về mặt lý và tình. Từ những chứng cứ viện dẫn nêu trên, ông S1 nhận thấy quyền khởi kiện là quyền cơ bản của công dân, tuy nhiên trong vụ việc này ông Nguyễn Xuân L đã đưa ra những căn cứ thiếu khách quan, không phù hợp, chưa đúng theo quy định pháp luật để khởi kiện, ông Nguyễn Xuân L đưa ra các yêu cầu phi lý, từ đó khẳng định nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Xuân L đối với ông S1 với số tiền là 1.025.921.000đ (Một tỷ không trăm hai mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Trong đó nợ gốc 733.649.000đ và nợ lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 03/12/2024 là 292.272.000đ là hoàn toàn chưa đúng, chưa phù hợp gây phiền muộn tinh thần, ảnh hưởng uy tín, danh dự, thời gian, vật chất cho ông S1, gia đình và công ty. Chính vì vậy ông S1 không chấp nhận, phản bác một phần các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân L trong vụ án dân sự số: 32/TLDS-ST ngày 03/02/2025 về việc "Tranh chấp nghĩa vụ trả nợ tiền", yêu cầu ông S2 trả lại Khu vui chơi giải trí thể thao M để Công ty CP T2 triển khai thực hiện dự án theo yêu cầu của Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Đ đã ban hành tháng 02/2025. Khi ông S2 bàn giao dự án Khu vui chơi giải trí thể thao M cho ông S1 đại diện Công ty CP T2 để tiếp tục tổ chức triển khai hoạt động, lúc này ông S1 sẽ trả lại số tiền nợ còn lại 300.000.000đ cho ông S2.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định ông Mai Đình S còn nợ ông Nguyễn Xuân L và bà Trần Thị N số tiền nợ gốc 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) và đồng ý trả lãi từ ngày 15/7/2022 cho đến ngày 15/9/2025 là 38 tháng với mức lãi suất 10%/năm.

* Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự số 396/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng đã xử và quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa ông Nguyễn Xuân L, bà Trần Thị N và ông Mai Đình S.

2. Buộc ông Mai Đình S phải trả cho ông Nguyễn Xuân L, bà Trần Thị N số tiền 589.999.999đ (Năm trăm tám mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín đồng), trong đó nợ gốc 400.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025 là 189.999.999₫.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Án phí và chi phí tố tụng khác:

Án phí Dân sự sơ thẩm: 27.600.000đ, ông Mai Đình S phải chịu.

Ông Nguyễn Xuân L phải chịu án phí đối với số tiền 246.478.501đ là 12.323.925đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 21.388.815đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0005030 ngày 21/01/2025. Ông Nguyễn Xuân L được nhận lại số tiền 9.064.890đ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự có kháng cáo như sau :

  • - Ngày 22/9/2025, ông Mai Đình S kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về khoản tiền gốc và tiền lãi theo quy định pháp luật.
  • - Ngày 29/9/2025, bà Trần Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với nội dung không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đề nghị huỷ Bản án dân sự số 396/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng để giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại đúng theo quy định.
  • + Lý do huỷ án: Toà án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể là việc xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện rõ khoản tiền 800.000.000đ vay nhằm phục vụ được vay nhằm phục vụ cho hoạt động của Công ty cổ phần T2; giấy mượn tiền do ông Mai Đình S lập có ghi rõ tư cách đại diện Công ty, chứng từ giao dịch ngân hàng cũng xác định chủ thể giao dịch là pháp nhân Công ty, không phải cá nhân ông Mai Đình S. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này gắn liền với trách nhiệm dân sự của pháp nhân, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định cá nhân ông Mai Đình S là bị đơn, không đưa Công ty cổ phần T2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan hoặc bị đơn, dẫn đến việc bỏ sót người tham gia tố tụng và xác định sai chủ thể chịu trách nhiệm.
  • + Đối với kháng cáo của các đương sự do huỷ án sơ thẩm nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Văn C là đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Xuân L, bà Trần Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

[2] Về nội dung vụ án: Xét nội dung kháng cáo các đương sự thì thấy:

[2.1] Ông Nguyễn Xuân L (tên gọi khác là S2) và bà Trần Thị N có cho ông Mai Đình S mượn số tiền 800.000.000đ, mục đích mượn tiền để mua xe ô tô; Thời hạn vay thỏa thuận là khi nào vợ chồng ông L và bà N cần thì báo trước cho ông S 10 (mười) ngày thì ông S sẽ thu xếp trả. Ngày 04/7/2016 tại nhà ông L và bà N, ông S có viết giấy mượn tiền với nội dung: “Em tên: Mai Đình S, đại diện Công ty cổ phần T2 có mượn vợ chồng anh S2 số tiền là 800.000.000 đồng, B chữ: (T1 trăm triệu đồng), Lý do: Mua xe ô tô Maxda CX5 để phục vụ đi lại công tác. Số tiền trên khi nào vợ chồng anh S2 cần thì em sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại cho vợ chồng anh chị trong vòng 10 ngày (kể từ ngày vợ chồng anh chị báo)".

Sau khoảng một thời gian, ông S2 thông báo cho ông S là cần tiền và ông S đã trả được cho ông L, bà N số tiền 400.000.000đ, cụ thể: Ngày 05/10/2018 trả 200.000.000đ; ngày 17/10/2019 trả 50.00.000đ; ngày 26/10/2020 trả 100.000.000đ; ngày 02/12/2020 trả 50.000.000₫.

Ông Nguyễn Xuân L và bà Trần Thị N cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho rằng khi mượn tiền các bên thỏa thuận với nhau lãi suất 10%/năm, nên khi ông S trả số tiền 400.000.000đ thì ông L, bà N đã tính vào tiền lãi và phần còn lại tính vào tiền gốc. Nay ông L, bà N xác định ông S còn nợ số tiền gốc là 733.649.000đ. Số tiền này từ năm 2020 cho đến nay, ông S không trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận nên ông L, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S phải trả cho ông L, bà N số tiền 1.082.957.000đ; trong đó nợ gốc là 733.649.000đ và nợ lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 349.308.000đ.

Đại diện theo uỷ quyền của ông Mai Đình S xác nhận vào ngày 04/7/2016 ông S có mượn của ông L, bà N số tiền 800.000.000₫ và các bên không có thỏa thuận lãi suất. Quá trình mượn tiền, ông L và bà N cần tiền nên ông S đã trả được 400.000.000đ, ngày 15/7/2022 ông L có nhắn tin đòi tiền ông S bao gồm cả gốc và lãi nên ông S chỉ đồng ý trả cho ông L, bà N số tiền nợ gốc còn lại 400.000.000đ và tiền lãi tính từ ngày 15/7/2022 cho đến ngày 15/9/2025 với lãi suất 10%/năm.

Căn cứ nội dung tại Giấy mượn tiền ngày 04/7/2016 và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm về việc ông L, bà N cho ông S mượn và ông S chuyển trả nợ tiền mặt cho ông L, bà N thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để xác định đây là cá nhân ông S vay mượn của ông L, bà N với số tiền 800.000.000₫.

[2.2] Tại Giấy mượn tiền ngày 04/7/2016 giữa ông L, bà N với ông S không thể hiện lãi suất và khi ông S trả tiền thì ông L, bà N cũng không có tài liệu chứng cứ nào cho rằng đây là khoản tiền trả lãi và yêu cầu ông S phải trả toàn bộ nợ gốc nên không có căn cứ để tính số tiền mà ông S đã trả vào tiền lãi từ năm 2016 cho đến ngày 02/12/2020. Do đó, Hội đồng xét xử xác định từ ngày 03/12/2020 ông S còn nợ ông L, bà N số tiền gốc là 400.000.000đ và ông L, bà N thường xuyên yêu cầu ông S trả nợ nhưng ông S không trả nợ nên phải chịu lãi suất chậm trả 10%/năm theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự trên số tiền nợ do vi phạm thời hạn trả nợ từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025 với số tiền lãi 189.999.999đ là phù hợp.

[2.3] Đại diện theo ủy quyền của ông S cho rằng chỉ đồng ý tính lãi từ ngày 15/7/2022 là thời điểm ông L nhắn tin yêu cầu ông S trả toàn bộ khoản nợ nào gồm cả lãi và gốc, vì đó là thời điểm mà ông L chính thức yêu cầu ông S hoàn trả tiền. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ông S khai vì ông L cần tiền nên ông S đã trả cho ông L bà N số tiền 400.000.000đ và từ ngày 03/12/2020 cho đến nay ông S không thực hiện trả tiền cho ông L nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ông L. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy việc tính lãi của Toà án cấp sơ thẩm đối với số tiền còn nợ 400.000.000đ từ ngày 03/12/2020 cho đến ngày 15/9/2025 với lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.

[2.4] Như vậy, tổng số tiền ông S phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông L và bà N số tiền là 589.999.999đ (Năm trăm tám mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm chín mươi chín đồng), trong đó nợ gốc 400.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025 là 189.999.999₫.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông L và bà N đối với số tiền 492.957.001₫.

[2.5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N, ông Mai Đình S; Giữ nguyên Bản án dân sự số 396/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đề nghị huỷ Bản án dân sự trên và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Mai Đình S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 589.999.999₫ là: 20.000.000đ + [(589.999.999₫ - 400.000.000đ) x 4%] = 27.600.000đ.
  • - Do không chấp nhận đối với một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 492.957.001đ nên ông Nguyễn Xuân L phải chịu án phí đối với số tiền 246.478.501đ là 12.323.925đ nhưng được trừ vào sô tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.388.815đ. Ông Nguyễn Xuân L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 9.064.890đ.
  • - Bà Trần Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên các đương sự phải chịu án phí như sau:

  • - Ông Mai Đình S phải chịu án phí là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm án phí 300.000₫ đã nộp tại biên lai thu số 0003700 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
  • - Bà Trần Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308; các Điều 147, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N, ông Mai Đình S;

Giữ nguyên Bản án dân sự số 396/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa ông Nguyễn Xuân L, bà Trần Thị N đối với ông Mai Đình S.
  2. Buộc Mai Đình S phải trả cho ông Nguyễn Xuân L, bà Trần Thị N số tiền 589.999.999₫ (Năm trăm tám mươi chín triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi chín đồng); trong đó nợ gốc 400.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 03/12/2020 đến ngày 15/9/2025 là 189.999.999₫.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Ông Mai Đình S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.600.000₫ (Hai mươi bảy triệu sáu trăm ngàn).
  • + Ông Nguyễn Xuân L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.323.925đ (Mười hai triệu, ba trăm hai mươi ba ngàn, chín trăm hai mươi lăm đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 21.388.815đ đã nộp tại biên lai thu số 0005030 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Đà Nẵng). Ông Nguyễn Xuân L được nhận lại số tiền 9.064.890đồng (Chín triệu không trăm sáu mươi bốn ngàn tám trăm chín mươi đồng).

4.Về án phí dân sự phúc thẩm:

  • - Ông Mai Đình S phải chịu án phí là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), đã nộp tại biên lai thu số 0003700 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
  • - Bà Trần Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND Khu vực 1 - Đà Nẵng;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Đà Nẵng;
  • - THADS TP Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Tổ nghiệp vụ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoài Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2026/DS-PT ngày 26/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 28/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị N, ông Mai Đình S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger