|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI Bản án số: 274/2025/HSST Ngày: 26/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Xuân Hoa, Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội: Ông Nguyễn Phương Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 237/2025/TL-HSST ngày 13/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2025/QĐXXST-HS ngày 26/11/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Anh Q, sinh năm 1960; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; HKTT: 111 Tổ A L, phường V, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số B ngõ A đường L, phường H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Con ông: Vũ Trọng H (Đã chết); Con bà: Phùng Thị M (đã chết); Gia đình có 6 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết N, Sinh năm: 1965; Có hai con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1987.
D chỉ bản số 2044 do Trại tạm giam số 2 (PC11B) Công an thành phố H lập ngày 11/8/2025.
Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:
Ngày 20/6/2000, TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích).
Nhân thân:
Từ năm 1981 đến năm 1996 bị cáo có 06 tiền sự về các hành vi: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân; Cố ý gây thương tích; Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Trộm cắp tài sản; Chứa chấp mại dâm, môi giới mại dâm (đều đã hết thời hiệu).
Ngày 27/8/2004, TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
Ngày 26/10/2009, TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
D chỉ bản: Số 2044 lập ngày 11/8/2025 tại Trại giam S2 (PC 11B) Công an thành phố H.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; HKTT: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở: Ngách E đường T, phường V, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Trần Văn C (Sinh năm: 1965); Con bà: Vũ Thị L (Sinh năm: 1971); Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất.; Vợ: Nguyễn Thị T1(Sinh năm: 1995); Có hai con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 06/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Đánh bạc (đã xóa án tích).
D chỉ bản: 1983 lập ngày 07/8/2025 tại Trại giam S2 (PC11B) Công an thành phố H
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên toà thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân Vũ Anh Q nghiện ma túy, không có công ăn việc làm nên nảy sinh ý định mua ma túy Heroine về bán kiếm lời. Cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 14h30' ngày 31/7/2025, Q nhận được điện thoại của Trần Văn T, sử dụng số điện thoại 0984973086 gọi đến số điện thoại 0567898814 của Q để hỏi mua 01 (một) chỉ ma túy Heroine. Q đồng ý bán cho T 01 chỉ ma túy Heroine với giá 3.400.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực ngã ba phố T - đê Nguyễn Khoái. Sau đó, Q điều khiển xe máy Honda Lead, BKS: 29Y5 – 079.74 đi đến khu vực phố V, phường B, thành phố Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông tên T2 01 túi ma túy Heroine với giá 3.100.000 đồng. Sau đó, Q mang ma túy đến điểm hẹn giao ma túy cho T và nhận của T 3.400.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, T mang túi ma túy về nhà chia thành 17 gói nhỏ để trong 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại. Khoảng 18h30' cùng ngày, T mang số ma túy trên đến khu vực ngã ba đê N - phố T, phường V, thành phố Hà Nội mục đích tìm khách để bán lại nhằm hưởng lợi thì bị Tổ công tác Đội 5 – Phòng cảnh sát ma túy Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang.
Thu giữ của T: 01 hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại bên trong có chứa 08 gói giấy và 09 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc ĐTDĐ kiểu dáng Redmi màu xanh đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen.
Lần 2: Khoảng 20h30' cùng ngày, Q tiếp tục mang theo 01 chỉ ma túy Heroine đến khu vực ngã ba đê N - phố T, mục đích đi tìm khách để bán ma túy. Tại đây, Q nhìn thấy lực lượng Công an đang rà soát, làm việc, nên Q đoán T bị Công an bắt, do đó Q đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Q: 01 ĐTDĐ kiểu dáng Iphone XS Max, 01 ĐTDĐ NOKIA màu đen, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Trần Văn T và Vũ Anh Q. Tại bản Kết luận giám định số 4698/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
“Tang vật thu giữ của Trần Văn T gồm:
- Chất bột màu trắng bên trong 08 gói giấy màu trắng và 09 gói giấy bạc màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 2,493 gam;
- 01 cân điện màu đen có dính ma túy loại Heroine.
Tang vật thu giữ của của Vũ A Q gồm:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 3,694 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Vũ Anh Q và Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, Lời khai nhận của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tiến hành xét nghiệm đối với Vũ Anh Q, Trần Văn T, kết quả: Q và T dương tính với ma túy. Tiến hành xác minh Q và T không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, do đó không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Vũ Anh Q, Trần Văn T về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông tên T2 bán ma túy, Q không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch. Tiến hành dẫn giải nhưng Q không xác định được T2 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Lead, BKS: 29Y5 – 079.74, xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị Bích L1 là em gái ruột của Vũ Anh Q. Chị L1 cho Q mượn, sử dụng chiếc xe trên để đi lại, không biết ngày 31/7/2025, Q sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, ngày 12/9/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho chị Vũ Thị Bích L1. Sau khi nhận lại tài sản, chị L1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự.
Đối với 01 ĐTDĐ kiểu dáng redmi màu xanh, 01 cân điện tử màu đen, 01 ĐTDĐ kiểu dáng Iphone XS Max, 01 ĐTDĐ NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của các đối tượng, sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 27/CT -VKS ngày 30/5/213/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội đã truy tố Vũ Anh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và truy tố Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
Tại phiên toà hôm nay:
Bị cáo Vũ Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe.
Bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra đồng thời bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội chuộc lại lỗi lầm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tại phiên tòa có quan điểm: Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, sau khi xét hỏi và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh: Tuyên bị cáo Vũ Anh Q và bị cáo Trần Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”
-Về hình phạt: Áp dụng điểm b, điểm i, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Vũ Anh Q: từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/7/2025
Áp dụng: khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Văn T: 04 (bốn) năm 06 tháng đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/7/2025
-Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) bao niêm phong (phong bì) được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ công an và Vũ Anh Q.
- - 01 (một) phong bì được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ công an và Trần Văn T.
- - 01 (một) vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại
- - 01 cân điện tử màu đen (không thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng)
Tịch thu thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Redmi vỏ màu xanh màn hình bị rạn nứt lắp Sim số: 0984973086
- - 01 (một) điện thoại di động NOKIA vỏ màu đen lắp Sim số: 0567898814, số IMEI: 353747943445659
- - 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XSM lắp Sim số: 0979246385, số IMEI: 353096103430014
Buộc bị cáo Vũ Anh Q truy nộp và sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, xem xét các đề xuất của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:
- Đối với: Vũ Anh Q, sinh năm 1960 là đối tượng nghiện ma túy. Chiều ngày 31/7/2025, tại khu vực phố V, phường B, Hà Nội, Q mua của một thanh niên tên T2 (không rõ lai lịch, nhân thân, địa chỉ cư trú) ma túy loại Heroine (theo kết luận giám định là 2,493 gam) với giá 3.100.000 đồng sau đó Q bán cho Trần Văn T với giá 3.400.000 đồng (hưởng lợi 300.000 đồng) tại khu vực ngã ba phố T - đê N, phường V, Thành phố Hà Nội.
Sau khi bán cho T xong, tối cùng ngày 31/7/2025, Q tiếp tục đến khu vực Võ Thị S – T, phường B, Hà Nội gặp và mua của T2 (không rõ lai lịch, nhân thân, địa chỉ cư trú nêu trên) một túi ni long chứa Heroine (theo kết luận giám định là 3,694 gam) với giá 3.100.000 đồng với mục đích bán lại cho T để kiếm lời.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 31/7/2025, Q tiếp tục đến khu vực ngã ba phố T - đê N, phường V, Thành phố Hà Nội để bán ma túy thì gặp lực lượng công an và Q đầu thú, giao nộp số ma túy nêu trên.
Hành vi nêu trên của Vũ Anh Q đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Xét thấy:
Theo kết luận giám định của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H, tổng khối lượng Heroine bị cáo Vũ Anh Q thực hiện hành vi mua bán là: 6,187 gam.
Ngoài ra, trong cùng ngày 31/7/2025, bị cáo Vũ Anh Q còn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 02 (hai) lần, cụ thể:
Lần 01: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/7/2025, Q bán cho T 2,493 gam Heroine với giá 3.400.000 đồng (hưởng lợi 300.000 đồng).
Lần 02: Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 31/7/2025, Q đang trên đường đi bán 3,694 gam Heroine thì phát hiện T bị bắt nên đến Cơ quan điều tra đầu thú.
Vì vậy, cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà nội đã truy tố Vũ Anh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b (phạm tội 02 lần trở lên) và điểm i ( Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam) khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật
- Đối với Trần Văn T, sinh năm 1991, là người nghiện ma túy. Chiều ngày 31/7/2025, T đã mua của Vũ A Quân 2,493 gam ma túy loại Heroine với giá 3.400.000 đồng với mục đích để bán kiếm lời. T dùng cân điện tử chia nhỏ số Heroine nêu trên làm 17 gói với trọng lượng khác nhau để bán với giá khác nhau, cụ thể: 09 (chín) gói giá 200.000 đồng, 04 (bốn) gói giá 300.000 đồng và 04 (bốn) gói giá 400.000 đồng. Nếu bán trót lọt T sẽ thu được 4.600.000 đồng (hưởng lợi 1.200.000 đồng). Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/7/2025, khi T mang số ma túy trên đến khu vực ngã ba đê N - phố T, phường V, thành phố Hà Nội để tìm khách bán thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội đã truy tố Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội và không oan.
[3] Về tính chất, mức độ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác; Các bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Vũ Anh Q:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đầu thú, khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 08/6/2000, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 48 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích). Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại khoản 1 điều 53 Bộ luật hình sự 2015, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân:
Từ năm 1981 đến năm 1996 bị cáo có 06 tiền sự về các hành vi: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân; Cố ý gây thương tích; Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Trộm cắp tài sản; Chứa chấp mại dâm, môi giới mại dâm (đều đã hết thời hiệu).
Ngày 27/8/2004, TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
Ngày 26/10/2009, TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
- Đối với bị cáo Trần Văn T:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân:
Ngày 06/01/2015, Tòa án nhân dân huyện ĐăkSong, tỉnh Đăk Nông xử phạt 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, thời hạn tù tính từ 06/01/2015 (đã xóa án tích)
[5] Về hình phạt chính:
Trên cơ sở tính chất mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định.
Đối với bị cáo Q: Nhân thân của bị cáo có nhiều tiền án (03 tiền án) trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích và 06 (sáu) tiền sự (đều đã hết thời hiệu), bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nhưng bị cáo Q lại không lấy đó làm bài học, mà vẫn tiếp tục mua bán ma túy để hưởng lợi.
Đối với bị cáo T, mặc dù có 01 (một) tiền án (đã được xóa án tích) nhưng vẫn bị coi là nhân thân xấu
Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tại phiên toà mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về các nội dung khác:
- Về người đàn ông bán ma túy cho Vũ A Q: Q khai chỉ biết tên là T2 chứ không quen biết và cũng không biết nhân thân, lai lịch của họ. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng Q không xác định được người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng.
- Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Lead, BKS: 29Y5 – 079.74, đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982, địa chỉ: X, V, T, Hà Nội. Anh H1 có lời khai năm 2011 anh mua chiếc xe máy nêu trên, đến cuối năm 2024 anh bán chiếc xe trên cho cửa hàng xe máy ở Hà Nội, địa chỉ cụ thể anh không nhớ. Chị L1 cũng có lời khai chị mua chiếc xe trên tại một cửa hàng xe máy cũ tại đường Đ, Hà Nội (địa chỉ cụ thể chị không nhớ). Như vậy, xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe nêu trên là chị Vũ Thị Bích L1 (là em gái ruột của Vũ Anh Q). Chị L1 và Q đều khai chị L1 cho Q mượn, sử dụng chiếc xe trên để đi lại và không biết Q sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Chị L1 đề nghị được trả lại chiếc xe trên cho chị. Vì vậy, ngày 27/9/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Vũ Thị Bích L1 là đúng quy định. Sau khi nhận lại tài sản, chị L1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 02 chiếc điện thoại của Q đăng ký đăng ký chủ thuê bao là Vũ Mai H2 và Trần Thị S1: Tại cơ quan điều tra, chị H2 và chị S1 đều có lời khai nhận các chị đều không đăng ký và không sử dụng số điện thoại nêu trên, không rõ lý do đứng tên đăng ký số điện thoại, không biết ai đang sử dụng các số điện thoại đăng ký tên mình và không có đề nghị gì. Bị cáo Q cũng có lời khai thừa nhận 02 chiếc điện thoại trong đó 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max lắp sim số 0979246385 và 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia lắp sim số 0567898814 do bị cáo Vũ Anh Q sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, Hội đồng xét xử sẽ quyết định xử lý vật chứng theo quy định.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng thu giữ của Vũ Anh Q:
01 phong bì dán kín niêm phong tang vật ma túy (bên trong chứa 3,694 gam Heroine), mép dán có chữ ký của Vũ A Q, cán bộ Công an và giám định viên là chất cấm cần tịch thu, tiêu hủy.
01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max lắp sim số 0979246385 và 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia lắp sim số 0567898814 do bị cáo Vũ Anh Q sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
Đối với vật chứng thu giữ của Trần Văn T:
01 phong bì dán kín niêm phong tang vật ma túy (bên trong chứa 2,493 gam Heroine) mép dán có chữ ký của Trần Văn T, cán bộ Công an và giám định viên là chất cấm cần tịch thu, tiêu hủy.
01 cân điện tử màu đen T dùng để chia ma túy và 01 (một) vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động kiểu dáng Redmi vỏ màu xanh lắp sim số 0984973086 do bị cáo Trần Văn T sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
Truy thu và nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng của Vũ A Q là tiền thu lời bất chính từ việc Vũ A Q bán ma túy cho Trần Văn T
[10] Về án phí:
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Anh Q và bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng: điểm b, điểm i, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Vũ Anh Q: 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/7/2025
1.2 Áp dụng: khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Văn T: 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/7/2025
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) bao niêm phong (phong bì) được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên - Nguyễn Hoàng H3, cán bộ công an - Nguyễn Công V và Vũ Anh Q (bên trong có 3,694 gam Heroin)
- - 01 (một) phong bì được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên - Nguyễn Hoàng H3, cán bộ công an - Lưu Trọng Đ và Trần Văn T (bên trong có 2,493 gam Heroin và 01 chiếc cân điện tử màu đen)
- - 01 (một) vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại
Tịch thu thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Redmi vỏ màu xanh màn hình bị rạn nứt lắp Sim số: 0984973086 (tại thời điểm bàn giao sim không còn hoạt động và điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XSM lắp Sim số: 0979246385, số IMEI: 353096103430014 (tại thời điểm bàn giao sim không còn hoạt động và điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)
- - 01 (một) điện thoại di động NOKIA vỏ màu đen lắp Sim số: 0567898814, số IMEI: 353747943445659 (tại thời điểm bàn giao sim không còn hoạt động và điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 2026/KV3-076 ngày 07/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hà Nội)
Buộc bị cáo Vũ Anh Q truy nộp và sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Vũ Anh Q và bị cáo Trần Văn T mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - Theo Điều 262 BLTTHS; - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú (thay thông báo KQXX); - Lưu HSVA, lưu trữ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Thị Huệ |
Bản án số 274/2025/HSST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 274/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh Q, Trần Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy
