Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – BẮC NINH

Bản án số:273/2025/HS-ST

Ngày: 23-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân – Giáo viên hưu

Bà Nguyễn Thị Thủy – Cán bộ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh H, sinh ngày 09/9/2007; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Bố: Mai Văn H1 (không rõ thông tin); Mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1971 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/6/2025, UBND phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Anh Từ Ngọc D, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà A, đường Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Thân Văn V, sinh ngày 08/11/2009 (vắng mặt).

Đại diện theo pháp luật:

  • + Ông Thân Văn T1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  • + Bà Tạ Thị L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đều địa chỉ: Tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Anh Trần Văn T2, sinh ngày 19/01/2011 (vắng mặt).

Đại diện theo pháp luật:

  • + Ông Trần Văn Y, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  • + Bà Tạ Thị Y1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Ông Bùi Thanh H2, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà B, đường H, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Ông Thân Văn T1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  1. Bà Tạ Thị L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đều địa chỉ: Tổ dân phố K, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Ông Trần Văn Y, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  1. Bà Tạ Thị Y1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Đoàn thanh niên phường V, tỉnh Bắc Ninh: Ông Nguyễn Khắc Q (vắng mặt).

- Đại diện Đoàn thanh niên phường V, tỉnh Bắc Ninh: Bà Đoàn Thị Y2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Minh H, Thân Văn V, Trần Văn T2 có mối quan hệ xã hội quen biết nhau. Ngày 22/5/2025, H, V, T2 ngồi chơi game tại quán game “DRAGON” tại kiot số B, đường T, phường B, tỉnh Bắc Ninh. Trong lúc chơi game tại quán, V rủ H và T2 đi trộm cắp tài sản thì H và T2 đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, ba người đi bộ quanh các tuyến đường trong phường B tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khuôn viên đường G, tổ N, phường B, T2 do buồn ngủ nên đã ngủ tại đây còn V và H tiếp tục đi tìm tài sản để trộm cắp.

Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 23/5/2025, H phát hiện thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vios, màu đen, biển kiểm soát 98A-592.02 của anh Từ Ngọc D đang đỗ trên vỉa hè trước cửa số nhà A đường Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh. H đi đến cửa phía bên lái, dùng tay phải mở được cửa xe nên bảo V cùng vào trong xe để trộm cắp. H vào xe ngồi ở ghế phụ còn V ngồi ở ghế lái. V mở cốp đựng đồ ở ghế phụ xe ô tô thấy một phong bì và một ví màu đen bên trong có tiền. Hoàng xé phong bì và lấy 07 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trong phong bì còn V lấy tiền ở trong ví ra thấy có nhiều tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 200.000 đồng. H và V để lại phong bì và ví ở trong xe rồi đi bộ đến khu vực Đ tưởng niệm kiểm đếm xác định trộm cắp được tổng số 14.000.000 đồng, gồm 35 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 35 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 07 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, V, H đi đến cửa hàng điện thoại của anh Bùi Thanh H2 sử dụng số tiền trộm cắp để mua 01 điện thoại Iphone 8Plus màu vàng với giá 3.000.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 7Plus với giá 2.000.000 đồng và mua 01 chiếc sạc điện thoại hết 100.000 đồng. Hai người đi tìm gặp T2 ở Đ tưởng niệm nên kể lại việc đã trộm cắp được số tiền trên. Sau đó, ba người thuê xe taxi đến thành phố B và thành phố T chơi. T2 đi vào một cửa hàng điện thoại sửa chiếc điện thoại Iphone 6S của T2 hết 160.000 đồng và mua 03 chiếc sim Vietnammobile hết 300.000 đồng. Số tiền còn lại ba người chi tiêu hết.

Ngày 03/6/2025, anh Từ Ngọc D làm đơn trình báo về việc bị trộm cắp số tiền 14.000.000 để trên xe ô tô và giao nộp 01 đoạn video trích xuất tại camera an ninh ghi lại hình ảnh liên quan vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã cho anh Từ Ngọc D, Thân Văn V, Phạm Minh H xác định hiện trường, kết quả H xác định vị trí xe ô tô, V xác định vị trí tài sản trộm cắp tại cốp phụ xe ô tô phù hợp với lời khai bị hại.

Ngày 03/6/2025, Cơ quan điều tra đã cho Thân Văn V, Phạm Minh H thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả H, V thực hiện thuần thục động tác trong xe ô tô trộm cắp tiền như đã khai.

Sau buổi làm việc ngày 03/6/2025, H không có mặt tại địa phương. Ngày 22/9/2025, H đến Công an phường B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, H giao nộp 01 quần cộc, 01 áo phông cộc tay, màu xám, 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu đen, gắn sim số 0565.194.925. V giao nộp 01 quần đùi, 01 áo phông cộc tay, màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 8 plus. Tâm giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6S màu bạc.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định file video do anh Từ Ngọc D giao nộp. Kết luận giám định số 1277/KL-KTHS ngày 28/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “6674140923620.mp4", dung lượng 3.08MB, thời lượng 01 phút 16 giây được lưu trữ trong đĩa CD-R gửi giám định.
  • - Trích xuất được 06 (sáu) hình ảnh có liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho Thân Văn V, Trần Văn T2, Phạm Minh H quan sát file video nêu trên. Kết quả V, T2, H đều xác định có hình ảnh của V và H vào trong xe ô tô để trộm cắp tài sản.

Cơ quan điều tra đã cho V, T2 nhận dạng ảnh của H. Kết quả V, T2 đều nhận đúng ảnh và xác định H là người đã cùng V thực hiện trộm cắp ngày 22/5/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Từ Ngọc D yêu cầu bị cáo H bồi thường 14.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 24 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh đã truy tố Phạm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Minh H khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng, thừa nhận đã cùng V trộm cắp số tiền 14.000.000 đồng của anh Từ Ngọc D. Bị cáo đồng ý với với tội danh, điều, khoản Viện kiểm sát truy tố và đồng ý một mình bồi thường cho anh D số tiền 14.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, khoản 5,6 Điều 12, khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt: Bị cáo Phạm Minh H từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phạm Minh H bồi thường cho anh Từ Ngọc D số tiền 14.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sư, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng và 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Trả lại anh Trần Văn T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo phông cộc tay, màu đen và 01 (một) quần đùi có nhiều họa tiết, màu sắc hình người đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “QA Thân Văn V”; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo gồm quần cộc và áo phông cộc tay màu xám đen đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “QA Phạm Minh H”.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định.

Bị cáo không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị hại vắng mặt đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ trong hồ sơ vụ án, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

Bí thư Đoàn thanh niên phường V, Bí thư Đoàn thanh niên phường V nơi anh Thân Văn V, anh Trần Văn T2 sinh sống vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Về tội danh:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định:

Ngày 23/5/2025, Phạm Minh H cùng Thân Văn V trộm cắp 14.000.000 đồng của anh Từ Ngọc D tại cốp phụ xe ô tô Vios 98A-592.02 để tại vỉa hè trước cửa số nhà A đường Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Tài sản trộm cắp trị giá 14.000.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh truy tố bị cáo theo tội danh, điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Thời điểm phạm tội, bị cáo chưa bị xét xử hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 17/6/2025, bị cáo bị UBND phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5] Tuy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo không có nơi cư trú ổn định, thuộc trường hợp khó quản lý, theo dõi. Mặt khác, sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 23/5/2025, đến ngày 17/6/2025, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Do đó, để ngăn ngừa tội phạm, để đảm bảo thi hành án cũng như để giáo dục, răn đe bị cáo, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên cần áp dụng thêm khoản 5 Điều 12, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên để quyết định hình phạt.

Căn cứ mức độ, tính chất hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Hình phạt bổ sung: Thời điểm phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Từ Ngọc D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng. Xét thấy, tài sản trộm cắp không thu hồi được nên yêu cầu này của anh D là phù hợp. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý một mình đứng ra bồi thường cho anh D số tiền trên. Do vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc bị cáo bồi thường cho anh D số tiền 14.000.000 đồng.

[8] Xử lý vật chứng:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng và 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đen là tài sản bị cáo dùng tiền trộm cắp để mua nhưng bị hại từ chối nhận các tài sản này nên cần trả hai điện thoại trên cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc là tài sản của anh Trần Văn T2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh T2 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 (một) áo phông cộc tay, màu đen và 01 (một) quần đùi có nhiều họa tiết, màu sắc hình người là tài sản của Thân Văn V, mặc tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 (một) bộ quần áo gồm quần cộ và áo phông cộc tay màu xám đen là tài sản của Phạm Minh H, mặc tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Vấn đề khác: Thân Văn V cùng đi trộm cắp tài sản, Trần Văn T2 cùng nhau chi tiêu số tiền đã trộm cắp được nhưng cả T2, V đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an phường B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[12] Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, khoản 5 Điều 12, khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2025.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phạm Minh H bồi thường thiệt hại cho anh Từ Ngọc D số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Trả bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số imei: 35671108556905 đã qua sử dụng đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “ĐT1”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Trả bị cáo 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số imei: 35535082166772, gắn số thuê bao: 0565194925, đã qua sử dụng đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “ĐT1”, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Trả anh Trần Văn T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, số imei: 35568307364444, đã qua sử dụng đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “ĐT1”.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo phông cộc tay, màu đen và 01 (một) quần đùi có nhiều họa tiết, màu sắc hình người đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “QA Thân Văn V”.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo gồm quần cộc và áo phông cộc tay màu xám đen đựng trong hộp giấy được niêm phong ký hiệu “QA Phạm Minh H".

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKS ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản kèm theo ngày 25/11/2025).

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
  5. Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  6. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  7. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại giam số 2 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV 1 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS KV 1 – Bắc Ninh;
  • - UBND xã Đồng Việt;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 273/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 273/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger