Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 10 – CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 26-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Minh Hiếu.
  2. Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với:

* Bị cáo: Lê Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08/10/1993; CCCD số: 094093007164 ngày 05/9/202, nơi cấp: Cục C; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành Phố Cần Thơ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp Đ, xã T, Thành phố Cần Thơ (Trước đây là ấp Đ, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lê Hoàng V (Lê Văn V1), sinh năm 1969 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1971 ngụ cùng địa chỉ bị cáo; Anh chị em ruột: 03 người: người lớn nhất là bị cáo, người nhỏ nhất sinh năm 2003; Có vợ tên Lê Thị Cẩm T2, sinh ngày 09/11/1991; Có 03 người con: con lớn sinh ngày 03/3/2017 con nhỏ nhất sinh ngày 04/9/2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo Lê Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2025 cho đến nay. (có mặt)

* Bị hại: Nguyễn Văn T3, sinh ngày 05/7/1997; Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

* Người làm chứng:

  1. Lê Văn M, sinh ngày 12/11/1991. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 01/01/1970. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  3. Lê Văn D, sinh ngày 01/01/1967. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  4. Lê Văn R, sinh ngày 02/6/1990. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  5. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  6. Lê Văn N, sinh ngày 15/8/1999. Địa chỉ: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  7. Lê Hoàng V (Lê Văn V1), sinh ngày 10/12/1969. Địa chỉ: ấp Đ, xã T, Thành phố Cần Thơ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05 tháng 11 năm 2024, Lê Văn T một mình đến nhà Lê Văn M tại ấp A, xã A1, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ) để dự nhóm họ đám giỗ của ông ngoại. Khi đến T ngồi chung bàn nhậu (uống bia) cùng với M, Nguyễn Văn T3, Lê Văn R, Nguyễn Văn T4 (ngụ cùng ấp A, xã T) và một số người bạn của M chưa rõ tên và địa chỉ. T nhậu đến khoảng 21 giờ 30 phút thì mọi người ra về chỉ còn T, M, R, T3 và cha ruột của T là ông Lê Văn V1 (Lê Hoàng V) còn ở lại nhậu và trong lúc nhậu thì M có lớn tiếng kêu cha của T im đi, nên T tức giận vì M nhỏ mà kêu cha của T im, nên giữa T và M xảy ra mâu thuẫn cải vả nhau, trong lúc cải nhau thì M có cầm ghế nhựa giơ lên đánh T thì T dùng tay phải đỡ và làm đổ bia trên bàn, T trượt chân té xuống nền gạch thì M nhào đến định đánh T thì T giằng co rồi ra trước sân nhà của M. Sau đó được mọi người can Mãi ra thì M vào phòng ngủ, còn T được T3 và R can ra. Lúc này T đang tức giận cho rằng T3 bênh vực Mãi nên giữa T và T3 xảy ra đánh nhau qua lại và trong lúc đánh nhau thì T nắm cổ áo của T3 đánh trúng vào mắt T3 làm T3 té xuống nền gạch. Sau đó T chạy vào nhà sau của M lấy 01 cây dao Thái Lan dài 33 cm, cán dao bằng nhựa, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn cầm trên tay phải chạy đến chỗ T3, lúc này giữa T và T3 đứng đối diện thì Thảo cầm dao giơ lên đâm T3 theo hướng từ trên xuống, do phản xạ bị T giơ dao lên đâm thì T3 giơ tay phải lên đỡ nên T đâm 01 dao xuyên thấu qua cẳng tay phải của T3, T thấy tay T3 bị chảy máu nên rút dao ra và ném bỏ cây dao phía trước nhà rồi đi về nhà, còn T3 được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện K (nay là Trung tâm y tế xã K) điều trị thương tích đến ngày 08/11/2024 thì xin về, sau đó đến Bệnh viện Q - Cần Thơ nhập viện điều trị từ ngày 08/11/2024 đến 15/11/2024 thì ra viện. Đến ngày 13/12/2024 T3 làm đơn yêu cầu xử lý Lê Văn T theo pháp luật hình sự.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 11/KLTTCT-TTPYST ngày 31/12/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh S kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • - Xuất huyết kết mặc nhãn cầu, bầm tím quanh mắt phải đã được điều tra. Hiện tại không ảnh hưởng thị lực (Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể)
    • - 02 sẹo cẳng tay phải, kích thước trung bình và kích thước nhỏ, bờ vết sẹo gọn, điện cơ dẫn truyền vận động, cảm giác thần kinh giữa cẳng tay phải bị giảm, ảnh hưởng chức năng ít đến động tác khớp cổ tay, ảnh hưởng chức năng ngón I, tê bì ngón I, II, III tay phải; căn cứ Bảng 1, C, Mục I.2, Bản G, C, Mục I.1 và Bảng 1, Chương 1, Mục VII.3.20, tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 02% (Hai phần trăm); 01% (Một phần trăm) và 11% (Mười một phần trăm).
  2. Kết luận:
    • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T3 tại thời điểm giảm định là: 14% (Mười bốn phần trăm), theo phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • + Các tổn thương cẳng tay phải có đặc điểm do vật có cạnh sắc- nhọn gây nên, không xác định vật gây thương tích vùng mặt (quanh mắt phải).
  • + Tổn thương vùng mặt (quanh mắt phải) nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng.

Trong quá trình điều tra, Lê Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi dùng dao đâm Nguyễn Văn T3 gây thương tích.

Theo bản cáo trạng số 02/CT-VKS-KV10, ngày 27/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại T3 vắng mặt nên chưa làm rõ được yêu cầu về bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dài 33cm, cán dao bằng nhựa màu đen trắng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một bề sắc bén, mũi nhọn, chiều rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, trên lưỡi dao có chữ Mingzhen.

  • - Đối với bị hại Nguyễn Văn T3: Theo hồ sơ thể hiện yêu cầu của bị hại đối với bị cáo như sau:
  • + Về trách nhiệm hình sự thì bị hại T3 yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật;
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T3 chỉ nộp một số hóa đơn tiền thuốc và tiền viện phí nhưng không yêu cầu cụ thể bị cáo bồi thường số tiền bao nhiêu và bao gồm các khoản chi phí nào nên không làm rõ được yêu cầu của bị hại về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là đúng theo nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ đã truy tố. Quá trình điều tra truy tố, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Cần Thơ nhằm khắc phục hậu quả cho bị hại và đồng ý tiếp tục bồi thường các khoản chi phí phù hợp theo quy định pháp luật cho bị hại nhưng cụ thể số tiền bồi thường bao nhiêu thì sau này bị cáo và bị hại sẽ tự thương lượng với nhau, nếu không thương lượng được sẽ yêu cầu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự trong vụ án khác.

Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì.

Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Bị cáo và nhưng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo thực hiện đối với bị hại là không đúng và ăn năn hối cải, vì nóng giận nhất thời đã gây ra thương tích cho bị hại, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được về với gia đình và nuôi dưỡng các con nhỏ. Ngoài ra không còn ý kiến khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn T3 và người làm chứng Mãi, Đ, R, T4 và N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không rõ lý do. Bị hại và những người làm chứng này đã có lời khai trực tiếp tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, xét nếu cần thiết thì sẽ công bố lời khai tại phiên toà theo quy định của pháp luật nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Tại phiên tòa, người tham gia tố tụng có mặt và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng nêu trên.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đối với bị hại T3 như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/11/2024 tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ) bị cáo có hành vi dùng cây dao Thái Lan dài 33cm, cán dao bằng nhựa màu đen trắng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một bề sắc bén, mũi nhọn là hung khí nguy hiểm đâm xuyên thấu cẳng tay phải của bị hại Nguyễn Văn T3, gây thương tích 14% (Mười bốn phần trăm). Lời nhận tội này của bị cáo T phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ; Phù hợp lời khai của người bị hại và những người làm chứng; Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, gây tổn hại sức khỏe cho bị hại. Bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm xuyên thấu cẳng tay phải của bị hại gây tổng tổn thương cơ thể cho bị hại là 14%. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, phù hợp theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 mà Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

Từ phân tích tại mục [3] và [4], Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Khi xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo T, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cụ thể như sau:

  • [5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội thì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có tự nguyện giao nộp số tiền là 10.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự thành phố C – do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Cần Thơ thu nhằm khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận, các tình tiết này phù hợp theo quy định tại điểm b, s khoản 1; Bị cáo không có tiền án tiền sự nên có nhân thân tốt, bị cáo là người đang trực tiếp nuôi 03 con nhỏ (con lớn sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2021) phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi xem xét hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo để có mức án vừa nghiêm minh, có tính răn đe giáo dục và vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của Nhà nước ta. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại T3 chỉ cung cấp một số toa vé điều trị thương tích nhưng không yêu cầu cụ thể bị cáo bồi thường số tiền bao nhiêu và bao gồm các khoản chi phí nào nên không làm rõ được yêu cầu của bị hại về trách nhiệm dân sự trong vụ án này. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Cần Thơ nhằm khắc phục hậu quả cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 10.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường các khoản chi phí phù hợp theo quy định pháp luật cho bị hại nhưng cụ thể số tiền bồi thường bao nhiêu thì sau này bị cáo và bị hại sẽ tự thương lượng với nhau, nếu không thương lượng được sẽ yêu cầu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự trong vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hội đồng xét xử quyết định:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dài 33cm, cán dao bằng nhựa màu đen trắng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một bề sắc bén, mũi nhọn, chiều rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, trên lưỡi dao có chữ Mingzhen, là công cụ phương tiện phạm tội.

[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ thực hiện quyền công tố là phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại T3 chỉ cung cấp một số toa vé điều trị thương tích nhưng không yêu cầu cụ thể bị cáo bồi thường số tiền bao nhiêu và bao gồm các khoản chi phí nào nên không làm rõ được yêu cầu của bị hại về trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Cần Thơ nhằm khắc phục hậu quả cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 10.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường các khoản chi phí phù hợp theo quy định pháp luật cho bị hại nhưng cụ thể số tiền bồi thường bao nhiêu thì sau này bị cáo và bị hại sẽ tự thương lượng với nhau, nếu không thương lượng được sẽ yêu cầu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự trong vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hội đồng xét xử quyết định, tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dài 33cm, cán dao bằng nhựa màu đen trắng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có một bề sắc bén, mũi nhọn, chiều rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, trên lưỡi dao có chữ Mingzhen, là công cụ phương tiện phạm tội.
  4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND Thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND khu vực 10 - Cần Thơ;
  • - CQ CSĐT-Công an Thành phố Cần Thơ;
  • - CQ THAHS-Công an Thành phố Cần Thơ
  • THADS Thành phố Cần Thơ;
  • UBND xã Thới An Hội, Thành phố Cần Thơ;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Tô Thị Bích Duyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

Trần Minh H

Tô Thị Bích D1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – CẦN THƠ về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích - Lê Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger