Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2026/HS-PT

Ngày: 28-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí.

Các Thẩm phán: 1. Ông Phan Thanh Tùng;

2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Chính Hào – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 197/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo Lê Văn T; do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và bị hại Nguyễn Trương Anh V đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo: Lê Văn T, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số D, ấp B, xã M, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1972 và bà: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1972; Vợ: Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1995 và có 01 con tên Lê Nguyễn Nam P, sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 19/02/2024 Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” mức phạt 400.000 đồng, chấp hành đóng phạt xong ngày 21/02/2024; Nhân thân: Ngày 19/3/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 57/2012/HSPT, chấp hành xong ngày 27/4/2013. Ngày 19/5/2015 Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh) tuyên phạt 03 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” theo bản án số 11/2015/HSST, chấp hành xong ngày 27/10/2015. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam số 2 từ ngày 15/4/2025 cho đến nay (có mặt).

Bị hại kháng cáo: Ông Nguyễn Trương Anh V, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Ấp B, xã M, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Dương Minh H1 thuộc Văn phòng Luật sư Đỗ Văn M. Địa chỉ: số A ấp L, xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

Những người làm chứng: Võ Thị Ngọc N1, Lê Yến T2, Hồ Thị H2, Đinh Tuấn N2, Võ Lý Thành L (Không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2025, Nguyễn Trương Anh V, sinh năm 2004, ngụ xã M, tỉnh Tây Ninh có vay 63.000.000 đồng của bị cáo Lê Văn T. Sau đó, bị cáo T nhiều lần yêu cầu Vi trả lại tiền nhưng V không trả, cố tình lẫn tránh.

Đến khoảng 17 giờ ngày 05/02/2025 bị cáo T điều khiển xe mô tô từ phường L về xã M, khi đi ngang quán K thuộc địa bàn phường L thì T thấy bạn của V ở trong quán, nghĩ V cũng đang có mặt ở đó nên T dừng xe bên ngoài rồi đi vào tìm, khi đến phòng VIP2 thì T gặp V đang cùng bạn bè và tiếp viên của quán đang uống bia, lúc này T cầm 01 ly bia đang để trên bàn ném vào người V nhưng V né được và nhảy đến ôm ngang người Tú từ phía sau xin T tha, T tiếp tục dùng tay trái cầm 01 cái ly khác đánh qua phải hướng đầu V đang tựa vào vai của T làm vỡ ly thuỷ tinh chỉ còn lại tay cầm ly, phần mảnh vỡ văng vào mắt phải của V, hai bên giằng co qua lại thì được mọi người can ngăn. V bỏ chạy ra ngoài và được đưa đi bệnh viện cấp cứu, bị cáo T lấy xe chạy về nhà. Vụ việc được Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết, ngày 11/02/2025 bị hại Nguyễn Trương Anh V nộp đơn tố giác yêu cầu xử lý hình sự đối với T.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 69/KLTTCT-TTPY ngày 11/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trương Anh V tại thời điểm giám định là: 45% (bốn mươi lăm phần trăm).

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù được tính từ ngày 15/4/2025.

Buộc bị cáo Lê Văn T bồi thường cho bị hại 88.384.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng và nộp tiền khắc phục hậu quả 60.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 8.384.000 đồng.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành, các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/10/2025, bị cáo Lê Văn T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Ngày 30/12/2026 anh Lê Văn T3 – là em ruột của bị cáo Lê Văn T đã nộp thêm 8.384.000 (tám triệu ba trăm tám mươi bốn ngàn) đồng. Đã nộp xong tiền bồi thường cho bị hại theo bản án sơ thẩm đã tuyên.

Ngày 03/10/2025 bị hại anh Nguyễn Trương Anh V làm đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án số 54/2025/HSST ngày 22/9/2025, về hình phạt đề nghị tăng mức án lên 5 năm tù đối với bị cáo T và về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại gồm: Tiền mất thu nhập 7 tháng: 4.960.000đ x 7 = 34.720.000đ, tiền tổn thất tinh thần: 100.000.000đ (tương đương 42 tháng lương cơ sở), T4 thuốc theo hóa đơn: 1.624.000đ, tiền xe đi lại khám chữa bệnh: 6.100.000đ, tiền ăn: 3.000.000đ, tiền nuôi bệnh 5 ngày x 500.000đ = 2.500.000đ, tiền bồi thường do suy giảm khả năng lao động do thương tật 41%: 80.000.000đ; tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là: 227.944.000đ .

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo T và bị hại V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo T và bị hại V kháng cáo trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung án sơ thẩm đã nêu và phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, không oan.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, tuy tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp thêm 8.384.000đ để bồi thường cho bị hại bằng số tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên, tuy nhiên cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo có một tiền sự và thân thân xấu nên không được hưởng án treo, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Kháng cáo của bị hại đề nghị tăng mức án lên 5 năm tù đối với bị cáo T nhưng không cung cấp được tình tiết nào khác nên không chấp nhận.

Về phần trách nhiệm dân sự bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm chi phí tái khám gồm 02 hóa đơn là 313.000đ và tiền thuê xe tái khám là 800.000đ. Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý nên đề nghị Hội đồng ghi nhận và chấp nhận một phần kháng cáo. Riêng các khoản bồi thường khác mà cấp sơ thẩm đã xem xét là đúng qui định nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại trình bày: Bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự và phạm tội có mức khởi điểm của khung hình phạt là 5 năm tù, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 3 năm 6 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, do đó đề nghị Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự, do bị hại bị hư một mắt phải điều trị dài ngày, công sức lao động sau khi điều trị bị hạn chế, phần thu nhập cũng bị hạn chế, kháng cáo của bị hại hoàn toàn có cơ sở. Đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo về dân sự của bị hại V.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát, ý kiến bị hại, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bị cáo và bị hại làm đơn kháng cáo trong hạn luật định và nội dung kháng cáo đúng qui định nên được thụ lý xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Do anh Nguyễn Trương Anh V vay của bị cáo Lê Văn T số tiền 63.000.000 đồng. Bị cáo T nhiều lần yêu cầu V trả lại tiền nhưng V không trả, cố tình lẫn tránh, ngày 05/02/2025 bị cáo T điều khiển xe mô tô từ phường L về xã M, khi đi ngang quán K thuộc địa bàn phường L đi đến phòng VIP2 thì gặp V, T cầm 01 ly bia đang để trên bàn ném vào người V nhưng V né được và nhảy đến ôm ngang người Tú từ phía sau xin T tha, T tiếp tục dùng tay trái cầm 01 cái ly khác đánh qua phải hướng đầu V đang tựa vào vai của T làm vỡ ly thuỷ tinh chỉ còn lại tay cầm ly, phần mảnh vỡ văng vào mắt phải của V. Gây thương tích cho V với tỷ lệ tổn thương cơ thể gây nên thiệt hại là 45% (Bốn mươi lăm phần trăm).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trị an ở địa phương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo T thấy rằng: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã xử phạt bị cáo với mức án 3 năm 6 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo T tỏ ra ăn năng hối cải, trong thời gian tạm giam cũng như trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình. Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ tiền bồi thường cho bị hại theo bản án sơ thẩm là 88.384.000đ, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi vay tiền bị cáo nhưng không trả, bị cáo đòi nợ nhiều lần, bị hại lánh mặt, gây ra ức chế tâm lý đối với bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

[4] Kháng cáo của bị hại: Bị hại V kháng cáo tăng mức án lên 5 năm tù đối với bị cáo T và buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại tổng số tiền là: 227.944.000đ.

Với những nhận định trên mục [3], đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị hại V không cung cấp được tình tiết nào khác nên không có căn cứ tăng hình phạt đối với bị cáo.

Về kháng cáo yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng số tiền 227.944.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại V đã xuất trình được 02 hóa đơn phiếu thu tiền và đơn thuốc tái khám tổng cộng là 313.000đ và 01 biên nhận thuê xe để tái khám 800.000đ, tổng cộng là 1.113.000đ, tại Tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 1.113.000đ nên ghi nhận. Những khoản bồi thường còn lại của bị hại yêu cầu nhưng bị hại V không cung cấp được chứng cứ, cũng như tại cấp sơ thẩm đã xem xét các khoản bồi thường hợp lý, đúng pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị hại V và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại.

Như vậy chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại V về trách nhiệm dân sự, ghi nhận bị cáo T đồng ý bồi thường thêm cho bị hại V tiền 02 hóa đơn phiếu thu và đơn thuốc tái khám, tiền thuê xe là 1.113.000đ. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản là 89.497.000đ, đã nộp bồi thường 88.384.000đ, bị cáo còn phải nộp bồi thường cho bị hại 1.113.000đ.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị hại Nguyễn Trương Anh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Trương Anh V về hình phạt. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Trương Anh V về phần trách nhiệm dân sự. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - tỉnh Tây Ninh về hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn T.
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/4/2025. Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn T 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường cho bị hại V số tiền 1.113.000 đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường là 89.497.000đ, đã nộp bồi thường xong là 88.384.000đ (gồm: đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng và nộp tiền khắc phục hậu quả 60.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000908 ngày 15/9/2025 và 8.384.000 đồng theo biên lai thu số 0002904 ngày 30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Còn phải tiếp tục nộp bồi thường 1.113.000 (Một triệu một trăm mười ba ngàn) đồng.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị hại Nguyễn Trương Anh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 1 – Tây Ninh;
  • - VKSND khu vực 1 – Tây Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Tây Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2026/HS-PT ngày 28/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 27/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger