Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 27/2026/DS-PT

Ngày: 20/01/2026

“V/v Kiện đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng.

Các Thẩm phán: ông Lê Ngọc Minh và bà Lưu Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Hải Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Xuân Linh Byă – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 408/2025/TLPT – DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “kiện đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 430/2025/QĐXXPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Công ty TNHH X1.
    Địa chỉ: số A, ngõ E đường N, phường B, quận H (nay là số A, ngõ E đường N, phường H), thành phố Hà Nội.
    Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Nhật H - Chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: 1. ông Hà Công N; 2. ông Hà Văn D; cùng địa chỉ: P.601, tòa nhà T, số B D, phường Y, thành phố Hà Nội; ông D có mặt, ông N vắng mặt.
  • * Bị đơn: ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn T, xã E, huyện K (nay là: thôn T, xã E), tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
    Người đại diện theo uỷ quyền: ông Võ Ngọc C1; địa chỉ: số D L, xã K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Công ty TNHH MTV X1; địa chỉ: số A L, phường E, thành phố B (nay là số A L, phường E), tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
      Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1995 - chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: số C S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là số C S, xã P, tỉnh Vĩnh Long); vắng mặt.
    2. Ông Lê Nhật H và bà Trần Thị Thúy H1; địa chỉ: số A ngõ E đường N, phường H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • * Người kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào khoảng cuối tháng 7/2023, Công ty TNHH X1 (gọi tắt là Công ty X1) có nhu cầu thu mua nông sản, sầu riêng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để phục vụ xuất khẩu. Thông qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Minh C2, Công ty X1 được biết ông Nguyễn Minh C (là em ruột ông C2) có quan hệ kinh doanh với Công ty TNHH MTV X1 (gọi là Công ty X1), do ông Nguyễn Trường G làm người đại diện theo pháp luật; Công ty X1 được giới thiệu là có khả năng cung cấp sầu riêng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Ngày 01/8/2023, dựa trên sự giới thiệu của ông C, Công ty X1 và Công ty X1 đã ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/08/2023/HĐMB/HL (sau đây gọi là Hợp đồng số 01), về việc mua bán hàng hóa (là sầu riêng) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai trong năm 2023. Theo Điều 3.2 của Hợp đồng số 01, Công ty X1 đặt cọc số tiền 700.000.000 đồng cho Công ty X1, để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, Công ty X1 chưa mở tài khoản ngân hàng doanh nghiệp nên ông C đã gợi ý cho Công ty X1 chuyển khoản số tiền trên đến số tài khoản cá nhân cho ông Nguyễn Minh C (số tài khoản: 8320123458888 tại Ngân hàng TMCP Q).

Ngày 12/8/2023, dựa trên sự thống nhất giữa các bên, Công ty X1 đã chuyển khoản số tiền đặt cọc 700.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của bà Trần Thị Thúy H1 (là Phó Giám đốc và theo sự ủy quyền của Công ty X1) vào tài khoản nói trên của cá nhân của ông C, để ông C chuyển lại cho Công ty X1 cho Công ty X1.

Tuy nhiên, sau khi nhận được khoản tiền 700.000.000 đồng nói trên, ông C đã không chuyển lại số tiền cho Công ty X1 (văn bản ngày 31/10/2023, Công ty X1 xác nhận ông C chưa hề chuyển tiền đặt cọc cho Công ty X1). Tại thời điểm giao dịch, vì chưa nhận được khoản tiền đặt cọc (do ông C không giao lại) nên Công ty X1 không có tiền để đặt cọc lại cho các nhà vườn, dẫn đến Công ty X1 không thể chấp nhận đơn đặt hàng và không cung cấp sầu riêng cho Công ty X1. Do hành vi nêu trên của ông C, Công ty X1 và Công ty X1 đã buộc phải thanh lý Hợp đồng số 01 vào ngày 31/10/2023 vì hai bên không thể đạt được mục đích ban đầu của việc giao kết hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn Công ty X1 và bị đơn ông Nguyễn Minh C có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn:

[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 01/8/2023 Công ty X1 và Công ty X1 ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/08/2023/HĐMB/HL, về việc mua bán hàng hóa (là sầu riêng) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai. Ngày 12/8/2023, dựa trên sự thống nhất giữa các bên, Công ty X1 đã chuyển khoản số tiền đặt cọc 700.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của ông C, để ông C chuyển lại cho Công ty X1. Do ông C không chuyển số tiền 700.000.000 đồng cho Công ty X1 nên hai bên Công ty không thể thực hiện hợp đồng. Vào ngày 31/10/2023, Công ty X1 và Công ty X1 đã ký thanh lý Hợp đồng số 01 nhưng không thông báo cho ông C biết. Ngày 31/10/2023, Công ty X1 gửi Công văn số 31.10/2023/NBL yêu cầu ông C trả lại số tiền 700.000.000 đồng nhưng không nêu cầu cụ thể về địa điểm, hình thức (giao nhận trực tiếp hay chuyển khoản, nếu chuyển khoản thì chuyển vào tài khoản nào của Công ty...). Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp Công văn số 18867/CPN-CSKH ngày 18/12/2025 của Tổng Công ty C3 về việc: Tổng công ty E xác nhận đã phát hành công cho người nhận là ông Nguyễn Minh C từ ngày 05/11/2023, tuy nhiên đến ngày 08/12/2025 (sau hơn 02 năm, kể từ thời điểm phát hành công), Công ty X1 mới văn bản phản ánh về việc chưa nhận được báo phát; do đó, Tổng công ty E không có cơ sở để tiếp nhận giải quyết vì đã vượt quá thời hiệu khiếu nại. Phía bị đơn thì cho rằng chưa nhận được công văn số 31.10/2023/NBL của Công ty X1. Tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp không xác định được ông C đã nhận được công văn yêu cầu trả tiền của Công ty X1. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu ông C phải trả lãi do chậm trả số tiền 700.000.000 đồng kể từ ngày hết thời hạn trả nợ (trước ngày 07/11/2023) cho đến ngày xét xử phúc thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH X1 và bị đơn ông Nguyễn Minh C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 25/08/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 – Đắk Lắk.

Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn Công ty TNHH X1 và bị đơn ông Nguyễn Minh C phải chịu mỗi người 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp tại Biên lai số 0000858 ngày 18/9/2025 và 0000469 ngày 28/8/2025 và của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa PT TANDTC tại Đà Nẵng;
  • - TAND Khu vực 4-Đắk Lắk;
  • - Đương sự;
  • - Phòng THADS Khu vực 4-Đắk Lắk;
  • - P.TTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Đặng Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 27/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger