Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12- VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 31-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập -Tự do -Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Tú Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thạch Hùng;
Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 12- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:19/2025/HSST, ngày 15/12/2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS, ngày 17/12/2025, đối với bị cáo: Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 07/9/1975, tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết) và bà Quan Thuận A (Đã chết); Anh chị em ruột: 03 người (Lớn nhất sinh 1973, nhỏ nhất sinh năm 1977); Bị cáo có chồng tên Đặng Văn H (Đã chết) và hiện chung sống như vợ chồng với Lê Chí H1, sinh năm 1954 (Không có đăng ký kết hôn); Con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995); Tiền sự: Ngày 29/8/2023, bị cáo bị Công an xã N, tỉnh Trà Vinh (Nay là Công an xã P, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” chưa chấp hành xong việc nộp phạt; Tiền án: Ngày 18/3/2025, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Vĩnh Long) xử phạt số tiền 20.000.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành xong bản án. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 15/11/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Tiểu Cần thuộc Trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh V, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974;
  2. Bà Trần Thị N2, sinh năm 1962;
  3. Bà Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1958;
  4. Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1992;

Tất cả cùng trú tại: Ấp B, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Tất cả các nhân chứng đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ, ngày 25/8/2025, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 đi bộ từ nhà mình qua quán nước của bà Lê Thị T, sinh năm 1980, cư trú ấp Bà B1, xã P, tỉnh Vĩnh Long để mua chai nước tẩy quần áo. Khi đến quán của bà T, bị cáo gặp những người cùng xóm là bà Nguyễn Thị Thu B (Mẹ ruột bà T), sinh năm 1958, cư trú ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long; Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974 và bà Trần Thị N2, sinh năm 1962, cùng cư trú ấp B, xã P, tỉnh Vĩnh Long đang uống cà phê. Lúc này, khi thấy bị cáo qua thì bà Thu B, bà Đ và bà N2 rủ bị cáo chơi đánh bài tứ sắc được ăn thua bằng tiền tại khu vực nhà sau (Nhà bếp) của bà T và được bị cáo đồng ý. Sau đó, bà Nguyễn Thị Thu B chuẩn bị 01 (Một) bộ bài tứ sắc và 01 (Một) chiếc chiếu lát để tất cả cùng nhau chơi đánh bạc. Thoả thuận trong một ván bài ai tới quan (Bài có bốn con bài giống nhau) thì ăn của 03 (Ba) người còn lại mỗi người 10.000 đồng, ai tới chơn (Bài không còn con bài rác) thì ăn của 03 (Ba) người còn lại mỗi người 5.000 đồng, khi kết thúc ván bài sẽ chung tiền trực tiếp cho người thắng. Sau khi thống nhất cách chơi và số tiền cá cược, bị cáo cùng bà B, bà Đ và bà N2 tham gia đánh bạc khoảng 10 (Mười) ván, đến khoảng 17 giờ 20 phút, cùng ngày, lực lượng Công an phát hiện nên tiến hành lập biên bản sự việc. Tạm giữ tại hiện trường 01 (Một) bộ bài tứ sắc, 01 (Một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,6m x 2m và số tiền trên chiếu bạc là 130.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 cùng Nguyễn Thị Thu B, Nguyễn Thị Đ và Trần Thị N2 sử dụng số tiền đánh bạc và thắng thua khi lực lượng Công an lập biên bản, cụ thể như sau: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 40.000 đồng; Bà Nguyễn Thị Thu B sử dụng số tiền 360.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng 50.000 đồng; Bà Nguyễn Thị Đ sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 30.000 đồng; Bà Trần Thị N2 sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng 20.000 đồng.

Số tiền bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 cùng với các đối tượng Nguyễn Thị Thu B, Nguyễn Thị Đ, Trần Thị N2 sử dụng dùng vào việc đánh bạc trái phép là 510.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua thu thập tài liệu, xác định vào ngày 29/8/2023, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 bị Công an xã N, tỉnh Trà Vinh (Nay là Công an xã P, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, vào ngày 18/3/2025, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 bị Toà án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Vĩnh Long) xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thị Hồng N1 chưa chấp hành xong bản án và chưa được coi là hết thời hạn xoá án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 vào ngày 25/8/2025 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi tham gia đánh bạc trái phép vào ngày 25/8/2025 của bà Nguyễn Thị Thu B, Nguyễn Thị Đ và Trần Thị N2 chỉ vi phạm hành chính nên Công an xã P căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1992, cư trú ấp V, xã P, tỉnh Vĩnh Long chỉ ngồi xem, không có tham gia đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh L.

Địa điểm diễn ra đánh bạc tại khu vực nhà sau (Nhà bếp) của bà Lê Thị T. Thời điểm diễn ra đánh bạc, bà T không có ở nhà mà nhờ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thu B và con ruột là ông Nguyễn Hoàng N3, sinh năm 1999, cư trú ấp Bà B1, xã P, tỉnh Vĩnh Long trông coi quán. Qua làm việc, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hoàng N3 không hay biết có sự việc đánh bạc, không tham gia tổ chức đánh bạc, không giúp sức việc đánh bạc và không hưởng lợi ích từ việc đánh bạc mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà T và ông N3.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Tạm giữ tại hiện trường: 01 (Một) bộ bài tứ sắc, 01 (Một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,6m x 2m và số tiền trên chiếu bạc là 130.000 đồng (Trong đó của Nguyễn Thị Thu B số tiền 110.000 đồng và Nguyễn Thị Đ số tiền 20.000 đồng).
Tạm giữ trên người số tiền 690.000 đồng gồm: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền 10.000 đồng, Nguyễn Thị Đ số tiền 310.000 đồng, Nguyễn Thị Thu B số tiền 300.000 đồng và Trần Thị N2 số tiền 70.000 đồng.
* Xử lý vật chứng:
Tịch thu trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng gồm: Nguyễn Thị Thu B số tiền 410.000 đồng (Trong đó có 110.000 thu giữ trên chiếu bạc), Trần Thị N2 số tiền 70.000 đồng và Nguyễn Thị Đ số tiền 20.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc; Trả lại Nguyễn Thị Đ số tiền 310.000 đồng.
Số tiền bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 dùng đánh bạc là 10.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Phòng giao dịch số 20 – Kho bạc Nhà nước Khu vực XIX, Vĩnh Long.

01 (Một) bộ bài tứ sắc và 01 (Một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,6m x 2m, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Vĩnh Long đã ra Quyết định chuyển vật chứng nói trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Vĩnh Long để quản lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKV12, ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ (Không có tình tiết tăng nặng), Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị:
- Áp dụng vào khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2025, về tội “Đánh bạc”.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 nộp số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng đến 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng sung Ngân sách nhà nước.
- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) bộ bài tứ sắc và 01 (Một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,6m x 2m.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là 10.000 đồng.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo có nghĩa vụ nộp án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 đã thừa nhận: Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nêu về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, đồng thời cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng và các bị cáo không có ý kiến trình bày bổ sung gì thêm nội dung so với bản cáo trạng mà bị cáo đã nhận và không tham gia tranh luận.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về lo cho gia đình, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải lo cho chồng đã lớn tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Những người làm chứng bà Nguyễn Thị Đ, bà Trần Thị N2, bà Nguyễn Thị Thu B, anh Nguyễn Hữu L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định và những người này đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.2] Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát và bị cáo không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

Tuy nhiên Vị đại diện Viện kiểm sát có đính chính tại trang 4 của Cáo trạng từ dòng số 01 đến dòng số 3, tính từ xuống có nêu: “Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 có 01 (một) tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và 01 tiền án về hành vi “Đánh bạc”, chưa được xoá án tích mà tiếp tục vi phạm”.
Nay đính chính lại như sau: “Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 có 01 (một) tiền án về hành vi “Đánh bạc”, chưa được xoá án tích mà tiếp tục vi phạm”.

Xét thấy, tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát có đính chính nội dung như nêu trên nhưng không làm thay đổi tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản thu giữ vật chứng và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 25/8/2025, tại khu vực nhà sau (Nhà bếp) của bà Lê Thị T thuộc ấp Bà B1, xã P, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 cùng với bà Nguyễn Thị Thu B, bà Nguyễn Thị Đ và bà Trần Thị N2 thực hiện hành vi đánh bài tứ sắc được ăn thua bằng tiền. Số tiền bị cáo và bà B, bà Đ và bà N2 sử dụng dùng tham gia đánh bạc là 510.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự (5.000.000 đồng) nhưng vào ngày 18/3/2025, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 bị Toà án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Vĩnh Long) xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 chưa chấp hành xong bản án và chưa được coi là hết thời hạn xoá án tích, bị cáo lại tiếp tục đánh bạc nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 đã yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKV12, ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 đã truy tố bị cáo ra trước tòa về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, đánh bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Hiện nay, tình hình đánh bạc diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng, để đấu tranh phòng chống có hiệu quả loại tội phạm này cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã bị kết án về hành vi đánh bạc chưa được xoá án tích lại tiếp tục vi phạm nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt nhưng xem xét dưới mức đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát cho nên về phần hình phạt Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát.

Về hình phạt bổ sung theo đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí: Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2025.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 nộp số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung Ngân sách nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) bộ bài tứ sắc và 01 (Một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,6m x 2m.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo tham gia đánh bạc 10.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Phòng giao dịch số 20 – Kho bạc Nhà nước Khu vực XIX, Vĩnh Long.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND KV12 - Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS KV12-Vĩnh Long;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Tú Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thị Hồng N phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger