Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Xuân Định

- Bà Đao Thanh Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST- HS ngày 11/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn N - Sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Lai Châu (nay là: Tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn P - sinh năm 1964 và bà Khoàng Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Phan Thị T - sinh năm 1985 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006; Gia đình bị cáo có 05 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2025 cho đến nay (Có mặt).

· Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vàng A T1 - sinh năm 1984. (Vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Bản H, xã P, tỉnh Lai Châu.

  3. Anh Phìn Văn N1 - sinh năm 1995. (Vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu.

  5. Anh Lò Văn Q - sinh năm 1990. (Vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: Tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu.

- Người làm chứng: Chị Vàng Thị H - sinh năm 2004 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Bản N, xã N, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng một tuần trước khi bị bắt, Lường Văn N một mình đi lên khu vực ngã ba tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N (tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu) thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên D khoảng 30 tuổi. Qua trao đổi, N mua được của người người đàn ông này 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen bên trong có chứa Heroine và 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng bên trong có chứa 11 viên H1 phiến với giá 10.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cho vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Về đến nhà, N tách gói ma túy ban đầu ra thành 02 gói nhỏ, Trong đó: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen bên trong có chứa Heroine và 01 viên Hồng phiến cất giấu ở bàn gội đầu; 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng để ở đầu giường ngủ trong phòng ngủ của N. Gói ma túy ban đầu được gói ngoài bằng mành nilon màu đen có chứa Heroine và 10 viên hồng phiến N gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng cất giấu ở gầm ghế sô-fa.

Khoảng 20 giờ ngày 30/5/2025, N lấy gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng cất trên đầu giường ngủ ra để sử dụng bằng hình thức hít, N mở gói Heroine để trên nắp vung nồi. Khi đang sử dụng Herione thì có Lò Văn Q, sinh năm 1990, trú tại: tổ dân phố N, xã N đến nhà chơi. Q thấy N đang chuẩn bị sử dụng Heroine thì Q có xin Nghĩa H2 để sử dụng. N đồng ý, dùng tay cấu lấy ra một ít trong số Heroine trên nắp vung nồi đưa cho Q. Đồng thời, lấy ra mảnh giấy bạc, xé ra đưa cho Q 01 nửa, N cầm 01 nửa mảnh giấy bạc. Sau đó, Q mượn N 01 bật lửa ga màu vàng để sử dụng Heroine bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng Heroine xong, N bảo Q đi rửa nồi để nấu cơm.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang ở trong bếp chuẩn bị tiếp tục sử dụng số Heroine có trên nắp vung nồi thì có Phìn Văn N1, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu và Vàng A T1, sinh năm 1987, trú tại bản Huổi Quảng 1, xã P, tỉnh Lai Châu đến đứng bên ngoài cửa bếp. Nguyn hỏi N “có ma túy thì bán cho N1 200.000 đồng". N đồng ý, N1 đưa 200.000 đồng qua khe cửa bếp cho N. Nhận tiền, N lấy một ít trong số Heroine Nghĩa để trên nắp vung nồi rồi dùng mảnh nilon màu hồng gói lại và đưa cho N1 qua khe cửa bếp. Sau đó, N đi vào trong buồng ngủ cất giấu số tiền 200.000 đồng rồi quay lại bếp để tiếp tục sử dụng Heroine.

Đối với N1, sau khi mua được ma túy từ N. Nguyn đưa gói H2 cho T1 cầm để sử dụng. Nhận H2, T1 cất giấu gói Heroine vào trong túi quần bên phải đang mặc. Đến hồi 20 giờ 35 phút cùng ngày, khi N1 và T1 đang ở sau nhà của N thì bị tổ công tác phòng P1 Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang, N1 khai nhận nguồn gốc số H2 là do N1 mua của Lường Văn N. Tổ công tác vào trong nhà bếp của N phát hiện 01 gói Heroine có khối lượng 0,2 gam được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng trên nắp vung nồi; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 bật lửa ga màu vàng. Đồng thời N cũng giao nộp cho tổ công tác số tiền 200.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giả 50.000 đồng).

Hồi 23 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiến hành khám xét người, chỗ ở đối với Lường Văn N. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ gồm:

  • Tại vị trí sườn trái ghế so-fa trong nhà của N 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có chứa 26,45 gam Heroine và 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 10 viên H1 phiến có tổng khối lượng 0,96 gam.
  • Tại vị trí gầm bàn gội đầu trong bếp thu giữ 01 gói được gói ngoài bằng mành nilon màu đen bên trong có chứa 0,24 gam Heroine và 01 viên hồng phiến có khối lượng 0,11 gam.

Tại bản Kết luận giỏm định số 461/KL-KTHS ngày 05/6/2025 của Phũng K Cụng an tỉnh L kết luận

  • “- Số chất bột, màu trắng thu giữ trong quỏ trỡnh bắt quả tang của Phỡn Văn N1 và Vàng A T1 cú khối lượng 0,08g (khụng phẩy khụng tam gam).
  • Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1) gửi giỏm định là ma tỳy, loại Heroine ...

  • + Số chất bột, màu trắng thu giữ trong quỏ trỡnh bắt quả tang của Lường Văn N cú khối lượng 0,2 gam (khụng phẩy hai gam).
  • Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M2) gửi giỏm định là ma tỳy, loại Heroine ...

  • + Số chất bột, màu trắng thu giữ trong quỏ trỡnh khỏm xột của Lường Văn N cú tổng khối lượng 26,69 gam (hai mươi sỏu phẩy sỏu mươi chớn gam).
  • 02 (hai) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M3, M5) gửi giỏm định là ma tủy, loại Heroine ...

  • + Số viờn nộn, màu hồng thu giữ trong quỏ trỡnh khỏm xột của Lường Văn N cú tổng khối lượng 1,07 gam (một phẩy khụng bảy gam).
  • 02 (hai) mẫu viờn nộn, màu hồng (ký hiệu M4, M6) gửi giỏm định là ma tỳy; loại: Methamphetamine."

Tại Bản kết luận giỏm định số 459/KL-KTHS, ngày 04 thỏng 6 năm 2025 của Phũng K Cụng an tỉnh L kết luận:

"04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giỏ 50.000 đồng (năm mươi nghỡn đồng) cú mó số hiệu lần lượt là: ZX 17968915, LG 24789453, SM 17511651, TK 20513052 gửi đến giỏm định là tiền thật"

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSKV4 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố Lường Văn N về các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hỡnh sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm p, khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm các tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lường Văn N mức án từ 14 đến 15 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tổng hợp hình phạt cho cả hai tội. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về vật chứng: Áp dụng quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng; 26,17 gam Heroine, 0,77 gam Methamphetamine; 02 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa gas. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Lường Văn N tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 30/5/2025, tại nhà bếp của Lường Văn N, thuộc tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Lai Châu (nay là tổ dân phố N, xã N, tỉnh Lai Châu), Lường Văn N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bằng cách chia nhỏ Heroine và cung cấp Heroine cho Lù Văn Q1, cung cấp các công cụ, phương tiện để Q1 sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít.

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 30/5/2025, cũng tại nhà ở của Lường Văn N. N đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,08 gam cho Phìn Văn N1 để sử dụng. Ngoài ra, nghĩa còn có hành vi tàng trữ 26,89 gam Heroine; 1,07 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát PC04 – Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Do số H2 và Methamphetamine N2 đã bán cho N1 và số H đang tàng trữ khi bị bắt quả tang và khám xét khẩn cấp cùng chung nguồn gốc để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Căn cứ điều 4, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Như vậy, tổng khối lượng các chất ma túy mà Lường Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 28,04 gam. Thuộc trường hợp quy định tại điểm p, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Bị cáo Lường Văn N có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi bán trái phép 0,08 gam Heroine, tàng trữ với mục đích để mua bán trái phép 26,89 gam Heroine và 0,07 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Hành vi chia nhỏ H2 và cung cấp Heroine cho Lù Văn Q1, cung cấp các công cụ, phương tiện để Q1 sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít đã đủ yếu tố cấu thành tội tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/7/2025, theo quy định không có lợi cho người phạm tội tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không áp dụng mức hình phạt theo quy định khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) đối với bị cáo.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo Lường Văn N chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo sống ở vùng khinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy trước khi bị bắt, bị cáo không có công việc hay thu nhập ổn định, trong nhà không có tài sản gì có giá trị lớn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phù hợp với quy định của pháp luật. 26,17 gam Heroine, 0,77 gam Methamphetamine là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành; 04 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa gas là vật dùng để thực hiện hành vi phạm tội; 04 vỏ phong bì dùng để niêm phong vật chứng ban đầu đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo N phạm tộ mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên D mà theo lời khai đó là người đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.

Đối với Phìn Văn N1 và Vàng A T1: Nguyn và T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 01 gói có khối lượng 0,08 gam để N1 và T1 sử dụng. Do khối lượng ma túy dưới mức thấp nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, N1 và T1 đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc một trong các tội quy định tại điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự. Ngày 06/10/2025 Cơ quan cảnh điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Vàng A T1, cảnh cáo đối với Phìn Văn N1, là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với Lò Văn Q được N cho H2 để sử dụng. Quá trình bắt quả tang, Q đã sử dụng hết số Heroine nên Cơ quan Cánh sát điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự. Ngày 06/10/2025 Cơ quan cảnh điều tra Công an tỉnh L ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hình vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn Q, bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự Sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Lường Văn N 14 năm tù về tội tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm 03 tháng tù tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội, bị cáo phải thi hành là 16 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 31/5/2025 Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng; 26,17 gam Heroine, 0,77 gam Methamphetamine; 02 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa gas. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu được lập vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 17 tháng 11 năm 2025)

  4. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Những người có QL, NV LQ;
  • - Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger