Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26a/2025/HS-ST

Ngày 29 – 12 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Minh Giang
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Bùi Thị Diệu
    2. Bà Phan Thị Hồng Vân
  • - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 02/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Bùi Văn N, sinh ngày 08/07/2007 tại xã Q, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị T1, sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Bùi Văn X, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Bà Bùi Thị V, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
  • + Ông Bùi Văn T3, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm D, xã Q, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 22/7/2025, Bùi Văn N, sinh năm 2007 trú tại: xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ đi bộ đến nhà ông Bùi Văn X, sinh năm 1974, trú tại xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ để uống bia (nhà anh X bán bia, nước uống giải khát). Đến nơi N gọi bia và đồ ăn rồi ngồi tại tầng 2 nhà của Bùi Văn X, tại đây X ngồi cạnh nói chuyện và cùng mở loa hát với N. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, N đưa micro cho ông Xuân H, sau đó N đi xuống dưới tầng một, lúc này N nhìn thấy có 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave @, màu sơn xanh, biển kiểm soát 28FN-059.42 của gia đình ông X dựng ở trong sân nhà, trên xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện của xe, nên liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Nhất quan sát xung quanh không thấy có người trông coi, quản lý nên đã đi đến vị trí dựng chiếc xe và dịch chuyển quay xe hướng ra ngoài cổng, đồng thời ngồi lên xe, dùng hai chân đẩy chiếc xe mô tô ra khỏi nhà. Khi ra đến đường liên xóm cách nhà ông X khoảng 30m, Nhất nổ máy xe và điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi theo hướng Quốc lộ A (Y - Ninh Bình) để tìm nơi tiêu thụ bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trên đường đi N có dừng xe lại để kiểm tra cốp xe mô tô xem có tài sản không, tuy nhiên không phát hiện có tài sản gì.

Khi N điều khiển xe mô tô đến khu vực khu phố A, xã Y, tỉnh Phú Thọ, do không làm chủ phương tiện đã tự đâm vào đuôi xe container biển kiểm soát 88H-031.20 kéo theo Rơ mooc mang biển kiểm soát 88RM-000.90 đang dừng đỗ ở mép đường bên phải phía trước cùng chiều hướng Y - Ninh Bình, N bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N sau đó được chuyển tuyến điều trị tại Bệnh viện H1, đến ngày 31/7/2025 tự điều trị tại nhà.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS, ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave @, màu sơn xanh, mang biển kiểm soát 28FN-059.42, có số khung: RLHJA3939RY091669, số máy: JA70E0395941, tình trạng đã qua sử dụng, được đăng ký mới tháng 7/2024 tại thời điểm trước ngày 22/7/2025 có giá trị là: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave @, màu sơn xanh, mang biển kiểm soát 28FN-059.42. Quá trình điều tra xác định việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, bảo quản.

Quá trình điều tra, truy tố, Bùi Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình ông Bùi Văn X; lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà, bị cáo đã tác động gia đình sửa chữa lại xe mô tô cho ông Bùi Văn X. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSKV 15 ngày 01 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã truy tố Bùi Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 15 – Phú Thọ, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 12 - 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và giải quyết các vấn đề khác theo quy định.

Bị cáo Bùi Văn N đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại vắng mặt nhưng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đồng thời đề nghị HĐXX quyết định hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hay yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an tỉnh P, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận nhận thấy lời khai nhận của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản ghi lời khai, bản tự khai của Bùi Văn N, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS, ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/7/2025 tại nhà ông Bùi Văn X thuộc xóm B, xã Q, tỉnh Phú Thọ, Bùi Văn N lợi dụng sự sơ hở, không có nguời trông coi, quản lý tài sản, đã lén lút lấy trộm tài sản là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave @, màu sơn xanh, mang biển kiểm soát 28FN-059.42 trị giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) của gia đình ông Bùi Văn X với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn N phạm tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi mà bị cáo Bùi Văn N thực hiện đã trực tiếp xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự nghiêm cấm và bảo vệ. Đồng thời hành vi mà bị cáo thực hiện còn gây mất trật tự an ninh trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì lười lao động, muốn kiếm tiền một cách bất chính nên lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Lỗi của bị cáo trong vụ án này là cố ý trực tiếp, do đó bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội đã gây ra.

[4] Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Do bị cáo lười lao động, muốn kiếm tiền một cách bất chính để tiêu xài cá nhân là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi phạm tội của bị cáo.

[5]Xét nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo Bùi Văn N chưa có tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường), sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình sửa chữa hư hại xe mô tô bị tai nạn cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên trong vụ án này việc bị cáo thực hiện việc trộm cắp tài sản và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28FN-059.42 sau khi trộm được trong tình trạng có sử dụng bia và gây tai nạn là tình tiết cần xem xét, đánh giá khi lượng hình đối với bị cáo.

[7] Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết cụ thể của vụ án, xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Song xem xét cụ thể trường hợp của bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có tính khả thi nên không áp dụng.

[8] Về xử lý vật chứng: Xét thấy việc trả lại vật chứng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[9]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập trách nhiệm dân sự của vụ án.

[10]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề trách nhiệm dân sự của vụ án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ (b/c);
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 15 – Phú Thọ;
  • - Công an xã Quyết Thắng;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - PC11- Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Giang

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26a/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26a/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger