Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2025/HS-PT

Ngày 25/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Bình
  • Các Thẩm phán: Ông Dư Thành Trung
  • Bà Nguyễn Thị Bích Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 231/2025/TLPT-HS ngày 22-10-2025 đối với bị cáo Lương Thị Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2025/HS-ST ngày 19/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Lương Thị Công T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 26/8/1975 tại: Thái Bình nay là Hưng Yên; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D nay là tổ dân phố A, xã D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lương Văn C (Đã chết); Con bà: Trần Thị Thanh S (Đã chết); Chồng: Nguyễn Hồng T1 (Sinh năm: 1972), bị cáo có 02 người con, sinh năm 1996 và 2005, cùng cư trú tại tổ dân phố A, xã D, tỉnh Lâm Đồng; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 25/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Thị Công T: Luật sư Hồ Thị P- Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.

Trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 19/07/2024, Đội CSHS Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an xã T kiểm tra, phát hiện tại nhà Nguyễn Thị H thuộc thôn T, xã B (xã T, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng, có Nguyễn Văn T2, Vũ Hoàng Â, Phạm Văn Đ, Vũ Thị T3, Phạm Thị D, Lương Thị Công T, Bùi Thị M, Nguyễn Đình T4, Phạm Văn H1, Nguyễn Thị T5 đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Liêng”. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số tiền 76.675.000 đồng, bao gồm: số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 7.010.000 đồng do các con bạc bỏ chạy xô lẫn vào nhau; 755.000 đồng tiền “Xâu” trong 01 nồi kim loại; thu giữ tiền trong người của Đ là 3.110.000 đồng, Â là 6.730.000 đồng, T2 là 1.340.000 đồng, M là 3.200.000 đồng, T là 3.930.000 đồng, D là 45.100.000 đồng, H1 là 1.100.000 đồng và T5 là 4.400.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định:

Vào ngày 18/07/2024, Vũ Hoàng H2 rủ Phạm Văn H1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Đình T4, Vũ Thị T3, Phạm Thị D, Nguyễn Thị T5 và Trương Công T6 cùng uống rượu tại nhà của vợ chồng H2 và H để chia tay H2 về Nghệ An, sau khi uống rượu thì mọi người rủ nhau đánh bạc, đến khuya cùng ngày thì nghỉ, không xác định được số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trong ngày 18/7/2024. Thạo, T3, D ngủ lại nhà vợ chồng H2, H.

Sáng sớm ngày 19/07/2024, H2 đón xe về Nghệ An, H đi buôn bán. Thạo, T3, D vẫn đang ngủ tại nhà H2 – H. Vào khoảng 10 giờ ngày 19/07/2024, T4 gọi điện rủ Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn Đ đến nhà H để đánh bạc, sau đó có Phạm Văn H1, Vũ Hoàng Â, Trương Công T6 cũng đến nhà H để đánh bạc. T2 lấy một bộ bài tây 52 lá có sẵn trên nóc tủ lạnh nhà H do H đã chuẩn bị sẵn ra rủ Â, D, T3, H1 và T6 đánh bạc hình thức đánh bài “Liêng”.

Hình thức đánh bài với nhau như sau: các bị cáo thoả thuận không quy định tiền đậu chớn, mỗi người bỏ ra giữa chiếu 100.000 đồng. Các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người chơi được chia 03 quân bài. Sau đó bắt đầu từ người chia bài xem bài và bỏ thêm tiền ra giữa chiếu để “Tố”, những người tiếp theo ai muốn theo ván bạc thì bỏ tiền ra như người đã “Tố”, hoặc “Tố” thêm tiền, ai không theo thì úp bài vào số bài còn dư chưa chia ở chiếu và bị thua toàn bộ số tiền đã bỏ ra trước đó. Nếu không còn ai tố thêm nữa thì so bài, người nào có bài lớn hơn thì thắng toàn bộ tiền đã “Tố”. Quy định tiền “Tố” một lần đưa nhỏ nhất 100.000 đồng, lớn nhất 2.000.000 đồng. Phân định thắng thua từ lớn đến nhỏ như sau: Sáp là 3 lá bài cùng quân nhưng khác chất (bích, chuồn, rô, cơ), L là 3 lá bài liên tiếp nhau, Ba tiên là 3 lá bài thuộc các quân J, Q, K, tính điểm thì bằng cách cộng tất cả các nút của 3 lá bài, lấy số đơn vị của tổng các nút làm điểm, quân A là 1 nút, J, Q, K là 10 nút, nếu bằng điểm nhau thì người nào có đôi hoặc lá bài lớn hơn thì thắng. Nếu ai có thắng số tiền trong một ván hơn 1.000.000 đồng thì bỏ ra 20.000 đồng để trong 01 nồi kim loại gọi là tiền “Xâu” để trả tiền bài tây, ăn uống cho chủ nhà, nếu dư ra thì chủ nhà được hưởng. Còn Nguyễn Đình T4 được các bị cáo nhờ canh cửa, cảnh giới lực lượng chức năng để được các bị cáo cho tiền sau khi đánh bạc xong.

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị H đi làm về thì nấu cơm, mua nước ngọt, dọn dẹp nhà cửa phục vụ cho các con bạc và lấy 200.000 đồng tiền xâu. Sau đó, H tiếp tục đi làm, để các bị cáo tiếp tục đánh bạc ở nhà của mình.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Â không chơi nữa và ra về. H1 thua hết số tiền 1.600.000 đồng nên nghỉ trước ngồi xem những người còn lại đánh bạc, T6 cũng thua hết tiền nên nghỉ, ra sân ngồi với T4. Khoảng 13 giờ 30 phút, Phạm Văn Đ đến tiếp tục tham gia đánh bạc với T2, D, T3. T4 gọi điện thoại cho Bùi Thị M rủ đến nhà H đánh bạc, khoảng 15 giờ cùng ngày, M cùng Lương Thị Công T đến nhà H2, H để tham gia đánh bạc cùng T2, D, T3, Đ. Sau đó, Nguyễn Thị Minh P1 đến tiếp tục tham gia đánh bạc với M, T, T2, D, T3, Đ.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Â quay lại tiếp tục đánh bạc. Lúc này, chiếu bạc gồm có P1, M, T, T2, D, Đ, Â, T3 đang đánh bạc. Đến 16 giờ 30 phút ngày 19/07/2024, Cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang, P1 và T6 bỏ chạy khỏi hiện trường.

Đối với Nguyễn Thị T5, khoảng 16 giờ ngày, T5 đến sòng bạc để tham gia đánh bạc thì chưa có “chân” (chỗ đánh), trong lúc đang xem các đối tượng khác đánh bạc thì T5 có hành vi cho M mượn 3.000.000 đồng và cho T mượn 2.000.000 đồng để đánh bạc (không tính lãi). Đối với số tiền 4.400.000 đồng thu giữ trên người T5, T5 khai sẽ dùng vào việc đánh bạc nhưng do chưa có “chân” đánh, trong lúc ngồi xem và chờ thì bị Cơ quan CSĐT bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn T2 mang theo 3.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, thời điểm bị bắt quả tang, trước mặt T2 có 1.500.000, trong người có 1.340.000 đồng, T2 thua 160.000 đồng; Phạm Văn H1 mang theo 2.700.000 đồng để đánh bạc, H1 thua 1.600.000 đồng, trên người còn 1.100.000 đồng; Phạm Văn Đ mang theo 3.500.000 đồng để đánh bạc, lúc bắt quả tang trước mặt Đ có 410.000 đồng, trên người có 3.110.000 đồng; Bùi Thị M mang theo 1.600.000 đồng để đánh bạc, trong lúc đánh bạc M mượn thêm của T5 3.000.000 đồng, tổng cộng số tiền M dùng để đánh bạc là 4.600.000 đồng, khi bị bắt quả tang, trước mặt M có 500.000 đồng, trên người còn 3.200.000 đồng; Lương Thị Công T mang theo 1.900.000 đồng để đánh bạc, T mượn thêm của T5 2.000.000 đồng, khi bị bắt quả tang, trên chiếu bạc có 100.000 đồng của T và trong túi áo T có 3.930.000 đồng. Vũ Thị T3 mang theo 3.700.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc, T3 thua hết, chỉ còn 100.000 đang chơi. Vũ Hoàng  mang theo khoảng 5.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang,  có 100.000 đồng đang chơi và 6.730.000 đồng trên người. Phạm Thị D khi bắt đầu đánh có 6.000.000 đồng, sáng ngày 19/7/2024, D mượn của chị gái 38.900.000 đồng, D thua hết 6.000.000 đồng và tiếp tục lấy 1.000.000 đồng trong túi ra để đánh bạc, khi bị bắt quả tang, trong túi D có 45.100.000 đồng, trên chiếu trước mặt có 1.000.000 đồng và 100.000 đồng đang chơi trong ván đó. T6 mang theo 1.700.000 đồng để đánh bạc và thua hết. Nguyễn Thị Minh P1 mang theo 1.500.000 đồng để đánh bạc, P1 thua 600.000 đồng, có 200.000 đồng trước mặt đang tố, khi bị bắt quả tang, P1 bỏ chạy mang theo 700.000 đồng trong người. T5 mang theo 9.400.000 đồng, mục đích là để đánh bạc, sau khi cho M và T mượn 5.000.000 đồng, T5 còn 4.400.000 đồng, khi đang đợi “chân” đánh thì bị cơ quan CSĐT bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 08/ CT- VKSKV4 ngày 18/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T2, Vũ Thị T3, Nguyễn Thị Minh P1, Phạm Văn Đ, Phạm Văn H1, Vũ Hoàng Â, Lương Thị Công T, Bùi Thị M, Nguyễn Thị T5, Phạm Thị D, Trương Công T6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 điều 321 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Đình T4 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2025/HS-ST ngày 19-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lương Thị Công T phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Thị Công T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án trừ đi thời gian tạm giữ từ 19/7/2024 - 25/7/2024; Phạt bổ sung bị cáo Lương Thị Công T số tiền 20.00.000 đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 03/9/2025, bị cáo Lương Thị Công T kháng cáo xin giảm nhẹ, xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo Lương Thị Công T đề nghị xét nhân thân của bị cáo phạm tội lần đầu, thời gian, số tiền sử dụng đánh bạc ít hơn các bị cáo khác, bị cáo đã toàn bộ số tiền phạt bổ sung, án phí theo bản án sơ thẩm, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng, gia đình khó khăn và đang nuôi 2 em chồng bị khuyết tật năng nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo T được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo T cho bị cáo được hưởng án treo và áp dụng thời gian thử thách theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Bị cáo Lương Thị Công T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 19/7/2024, Bùi Thị M cùng Lương Thị Công T đến nhà Vũ Hoàng H2, Nguyễn Thị H để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Liêng” cùng với Nguyễn Văn T2, Phạm Thị D, Vũ Thị T3, Phạm Văn Đ. Sau đó, Nguyễn Thị Minh P1, Vũ Hoàng  đến để tham gia đánh bạc với M, T, T2, D, T3, Đ. Đến 16 giờ 30 phút ngày 19/07/2024, Cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang.

    Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 10 giờ ngày 19/07/2024, T4 gọi điện rủ Nguyễn Văn T2 và Phạm Văn Đ đến nhà H để đánh bạc, sau đó có Phạm Văn H1, Vũ Hoàng Â, Trương Công T6 cũng đến nhà H để đánh bạc. T2 lấy một bộ bài tây 52 lá có sẵn trên nóc tủ lạnh nhà H do H đã chuẩn bị sẵn ra rủ Â, D, T3, H1 và T6 đánh bạc hình thức đánh bài “Liêng”. Các bị cáo sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người chơi được chia 03 quân bài; Phân định thắng thua từ lớn đến nhỏ như sau: Sáp là 3 lá bài cùng quân nhưng khác chất (bích, chuồn, rô, cơ), L là 3 lá bài liên tiếp nhau, Ba tiên là 3 lá bài thuộc các quân J, Q, K, tính điểm thì bằng cách cộng tất cả các nút của 3 lá bài, lấy số đơn vị của tổng các nút làm điểm, quân A là 1 nút, J, Q, K là 10 nút, nếu bằng điểm nhau thì người nào có đôi hoặc lá bài lớn hơn thì thắng. Nếu ai có thắng số tiền trong một ván hơn 1.000.000 đồng thì bỏ ra 20.000 đồng để trong 01 nồi kim loại gọi là tiền “Xâu” để trả tiền bài, ăn uống cho chủ nhà, nếu dư ra thì chủ nhà được hưởng. Nguyễn Đình T4 được các bị cáo nhờ canh cửa, cảnh giới lực lượng chức năng để được các bị cáo cho tiền sau khi đánh bạc xong. Các bị cáo thỏa thuận tiền đậu chớn là 100.000 đồng, tiền “Tố” một lần từ 100.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

    Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Â không chơi nữa và ra về. H1, T6 thua hết số tiền nên nghỉ. Khoảng 13 giờ 30 phút, Phạm Văn Đ đến tiếp tục tham gia đánh bạc với T2, D, T3. T4 gọi điện thoại cho Bùi Thị M rủ đến nhà H đánh bạc, M rủ T đến nhà H khoảng 15 giờ ngày 19/7/2024 để đánh bạc. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của các bị cáo là 77.375.000 đồng. Trong đó, Lương Thị Công T mang theo 1.900.000 đồng để đánh bạc, T mượn thêm của T5 2.000.000 đồng.

    Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên bố Lương Thị Công T phạm tội “Đánh bạc”. và căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Thị Công T 36 tháng tù là đúng quy định của pháp luật.

  3. [3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo T đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo hợp lệ nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

    Bị cáo Lương Thị Công T kháng cáo xin giảm nhẹ, xin hưởng án treo với lý do bị cáo hiện nuôi em chồng đang khuyết tật, ông ngoại ông Trần Lâm T7 là người có công với cách mạng và bị cáo T đã nộp số tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng, 200.000 đồng án phí theo bản án sơ thẩm. Bị cáo T cung cấp giấy xác nhận gia đình có công với cách mạng có xác nhận của Ban nhân dân thôn; tuy nhiên, UBND xã chỉ xác nhận chữ ký của trưởng thôn, không xác nhận ông Trần Lâm T7 là người có công với cách mạng nên không đủ căn cứ để xác định ông T7 là người có công với cách mạng. Đối với Giấy xác nhận khuyết tật của Nguyễn Thị T8, Sổ lĩnh tiền trợ cấp hàng tháng của Nguyễn Thị T8 và Đào Duy Q và Biên lai thu tiền 20.200.000 đồng của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng là tình tiết giảm nhẹ mới nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét bị cáo T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và thời gian, số tiền sử dụng để đánh bạc ít hơn các bị cáo khác. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo và cho bị cáo T được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp.

  4. [4]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Thị Công T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 19/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về phần hình phạt; Tuyên xử:

    • Tuyên bố bị cáo Lương Thị Công T phạm tội “Đánh bạc”.
    • Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt Lương Thị Công T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 5 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25 tháng 12 năm 2025).
    • Giao bị cáo Lương Thị Công T cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
    • Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Lương Thị Công T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - UBND xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2025/HS-PT ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 269/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger