|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI Bản án số: 262 /2025/HS-ST Ngày: 26/12/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thụy.
Bà Bùi Thị Hạnh. - - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Võ Yến Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Khu vực 1 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 517/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Quốc T, sinh năm 1962; Căn cước công dân: 001062012412; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số B, hẻm C đường B, phường N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Việt C và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có vợ là: Đỗ Mỹ H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2025, đến ngày 18/9/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h45' ngày 09/9/2025, tại địa chỉ số E P, phường B, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường B bắt quả tang Phạm Quốc T có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Thu H1 (sinh năm 1955, địa chỉ: A ngõ Y, phường B, thành phố Hà Nội). Tổ công tác đã đưa Phạm Quốc T và Vũ Thu H1 cùng tang vật về trụ sở làm rõ.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Quốc T:
- 01 (một) bảng tổng hợp ghi số lô, đề trên tờ giấy A4.
- 01(một) điện thoại Samsung A04, màu xanh đen, IMEI 1: 353503961676000, IMEI2: 354811671676007 bên trong lắp sim số 0915076798 (máy đã qua sử dụng).
- Tiền ngân hàng N1: 6.601.000 đồng.
- 13 (mười ba) tờ tích kê ghi số và có chữ ký ghi ngày 09/9/2025 được in qua giấy than.
- 01 (một) tờ giấy than màu xanh.
- 01 (một) bút bi màu xanh.
* Vật chứng thu giữ của Vũ Thu H1:
- 01 (một) tờ tích kê có nội dung ngày 09/9/2025 Đ/171, 050, 979, 080, 161, kép x 5đ, có một chữ ký.
Quá trình điều tra, Phạm Quốc T khai nhận:
Khoảng đầu năm 2025, T mượn ngôi nhà tại địa chỉ số E phố P của chị Trần Thị Thúy H2 (sinh năm 1972, địa chỉ: số A H, phường H, thành phố Hà Nội) để bán hàng nước chè. Khoảng giữa tháng 8 năm 2025, T quen biết một người đàn ông khoảng 40 tuổi do người này thường đến quán của T uống nước, người này tự giới thiệu tên là Đ (T không biết nhân thân, lai lịch cụ thể). Đ rủ T bán số lô, số đề giúp cho Đ tại quán nước của T và sẽ cho T hưởng tiền công từ số tiền bán số lô, số đề ghi được cho khách. Do muốn kiếm thêm thu nhập nên T đã đồng ý. Đ là người hướng dẫn T cách ghi số lô, số đề, viết tích kê và hẹn khoảng 18h00' hàng ngày sẽ đến nhận tiền, bảng ghi lô đề và tích kê. Sau khi có kết quả xổ số, vào sáng ngày hôm sau Đ sẽ đến quán nước, đưa tiền mặt cho T để T thanh toán cho khách.
Các hình thức chơi số lô, số đề như sau:
Dựa theo kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng 18h hàng ngày, khách chơi lô đề sẽ chọn các con số bất kì từ 00 đến 99 và chọn hình thức chơi gồm có: lô thường, đề thường, lô xiên quay, lô xiên nháy. Sau khi khách chọn số và trả tiền, T giao cho khách 01 tờ tích kê, còn T giữ bản in qua giấy than để cuối ngày tổng hợp thành bảng lô đề rồi chuyển cho Đ. Các hình thức đánh bạc gồm có:
- Đánh số đề: khách chọn 1 con số bất kỳ từ 00 - 99 rồi so với giải đặc biệt của xổ số miền B, nếu con số khách mua chọn trùng với 2 con số cuối của giải đặc biệt thì khách trúng số đề và được trả thưởng theo tỷ lệ gấp 70 lần số tiền khách đánh. Để thu hút khách chơi, T tự khuyến mại cho khách chơi số đề thêm 10% số tiền khách bỏ ra (bằng cách ghi thêm 10% tiền khách chơi trên tích kê hoặc chỉ thu 90% số tiền khách chơi nhưng trên tích kê vẫn ghi đủ số tiền). Nếu khách thắng số đề, T sẽ trả đủ số tiền ghi trên tích kê.
- Đánh số lô thường: Cứ đánh 01 điểm lô thì khách phải trả cho T 22.500 đồng, nếu khách trúng lô (02 chữ số trùng 02 chữ số cuối của 27 giải từ giải đặc biệt đến giải 7 xổ số kiến thiết miền bắc) thì cứ 01 điểm số lô sẽ được trả 80.000 đồng, nhân lên với số điểm lô mà khách đánh.
- Đánh số lô xiên: Tương tự như đánh số lô nhưng khách sẽ chọn 02 con số, 03 con số, 04 con số, nếu trúng cả 02 con thì được nhân 10 lần tiền cược, 03 con thì được nhân 40 lần, 04 con thì được nhân 100 lần tiền cược.
- Đánh số lô xiên nháy: Khách chọn 02 con số, nếu trúng cả 02 con hoặc 01 con ra 2 lần thì được nhân 10 lần số tiền cược.
- Đánh số lô xiên quay: Khách chọn từ 01 đến 04 con số, nếu trúng 02 con thì được nhân 10 lần số tiền cược, trúng 03 con thì được nhân 70 lần tiền cược, trúng 04 con thì được nhân 320 lần số tiền cược. Do hình thức đánh lô xiên quay có tỷ lệ thắng xác suất cao nên Trung thu của khách thêm một khoản (xiên quay 3 khách phải trả gấp 4 lần số tiền cược, xiên quay 4 khách phải trả gấp 11 lần số tiền cược), nếu khách thắng cũng chỉ được nhân tỷ lệ với số tiền ghi trên tích kê.
Với hình thức chơi số lô, số lô xiên, số lô xiên nháy: Trung thu đủ tiền khách chơi, không khuyến mại.
Về tỷ lệ chia tiền hưởng lợi, Đ và T thỏa thuận như sau:
- Với chơi số đề: Trung chuyển cho Đ 75% số tiền khách chơi, số tiền còn lại T được giữ;
- Với hình thức chơi số lô thường, với mỗi điểm khách chơi, Trung chuyển cho Đ 22.000 đồng/01 điểm lô, T hưởng 500 đồng;
- Với hình thức chơi số lô nháy, lô xiên, lô xiên quay: Trung chuyển cho Đ 62% số tiền khách chơi, T hưởng 38%.
Vào ngày bị bắt quả tang, Phạm Quốc T chưa kịp chuyển bảng số lô, số đề và thanh toán thắng thua với Đ. T khai T bán và chuyển số lô, số đề cho Đ được khoảng 20 ngày, có những ngày không có khách nên T không nhớ số tiền hưởng lợi. Trong số tiền bị Cơ quan điều tra thu giữ, có 6.297.500 đồng là tiền T nhận bán số lô, số đề cho khách chơi bạc ngày 09/9/2025, còn lại 303.500 đồng là tiền T bán nước chè ngày 09/9/2025 mà có.
Căn cứ tài liệu điều tra, số tích kê thu giữ và biên bản tự diễn giải, Cơ quan điều tra xác định được trong ngày 09/9/2025, Phạm Quốc T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề với 13 khách vãng lai, không rõ lai lịch cụ thể, với số tiền đánh bạc là 6.477.500 đồng. Đến khoảng 17h45' cùng ngày, Vũ Thu H1 đến quán nước của T mua các số đề gồm: 17; 71; 05; 50; 79; 97; 08; 80; 16; 61 và 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99, mỗi con số Hà chơi trị giá 5.000 đồng, tổng tiền đánh bạc của H1 là 100.000 đồng. Khi T vừa nhận tiền và đưa tích kê cho H1 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.
Cơ quan điều tra đã ghi lời khai chị Trần Thị Thúy H2, chị H2 trình bày: T và chị H2 là bạn bè đã lâu, do chị H2 có căn nhà số E P, phường B, thành phố Hà Nội không sử dụng đến nên cho T mượn để bán nước và quản lý nhà giúp chị. Việc T bán số lô, số đề tại địa chỉ trên chị H2 không biết. Do chị H2 không liên quan đến hành vi đánh bạc của Phạm Quốc T nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H2 là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên Đ và những người mua số lô, số đề của Phạm Quốc T ngày 09/9/2025: quá trình điều tra không xác định được họ tên, lai lịch và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Vũ Thu H1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của Phạm Quốc T ngày 09/9/2025, quá trình điều tra xác định số tiền H1 đánh bạc là 100.000 đồng. Nhân thân Vũ Thu H1 không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Do đó, hành vi của Vũ Thu H1 không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 18/9/2025, Công an phường B, Hà Nội đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 về hành vi mua số đề theo quy định tại Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Với nội dung nêu trên, bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo: từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng tù đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để:
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) tờ giấy than màu xanh và 01 (một) bút bi màu xanh.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.297.500 đồng thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo số tiền: 303.500 đồng và 01 (một) điện thoại Samsung A04, màu xanh đen.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Ngày 09/9/2025, tại địa chỉ số E P, phường B, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho khách vãng lai và Vũ Thu H1 với tổng số tiền đánh bạc ghi trên tờ phơi là 6.477.500 đồng thì bị Công an phường B bắt quả tang cùng vật chứng.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện: Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội vì vậy cần phải được xử lý nghiêm.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Phạm Quốc T khi thực hiện hành vi phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố mẹ bị cáo là người có công : bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương quân công hạng nhì, Huân chương chiến công hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, Huân chương chiến thắng hạng ba ; mẹ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Phạm Quốc T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trước khi xảy ra vụ án bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025), xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.
[5]. Xử lý vật chứng:
- 01 (một) tờ giấy than màu xanh; 01 (một) bút bi màu xanh thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng vì vậy căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số vật chứng này.
- 01(một) điện thoại Samsung A04, màu xanh đen, IMEI 1: 353503961676000, IMEI2: 354811671676007 bên trong lắp sim số 0915076798 (máy đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Phạm Quốc T, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại chiếc điện thoại này cho bị cáo.
- Tiền ngân hàng N1: 6.601.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 6.297.500 đồng là tiền T nhận bán số lô, số đề cho khách chơi bạc ngày 09/9/2025, còn lại 303.500 đồng là tiền T bán nước chè ngày 09/9/2025 mà có. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.297.500 đồng, trả lại cho bị cáo số tiền 303.500 đồng.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[7]. Án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Quốc T cho UBND phường N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) tờ giấy than màu xanh và 01 (một) bút bi màu xanh.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.297.500 đồng thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo số tiền: 303.500 đồng.
Số tiền: 6.601.000 đồng ( Sáu triệu sáu trăm linh một đồng chẵn) đã được chuyển vào tài khoản số 8636111999,mở tại ngân hàng TMCP Đ1 (B) của thi hành án dân sự thành phố H.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại Samsung A04, màu xanh đen, IMEI 1: 353503961676000, IMEI2: 354811671676007 bên trong lắp sim số 0915076798 (máy đã qua sử dụng).
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/KV1-2025 ngày 02/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội.
3. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
Bản án số 262/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 262/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.
