|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày : 23-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Châu Kha;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Niê Y Ling (Ma Bin) – Cán bộ Hưu trí và ông Nguyễn Thái Bình – Nguyên Phó Trưởng phòng Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cũ (nay là cán bộ hưu trí).
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 15 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 15 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lương Như Hoàn – Kiểm sát viên sơ cấp.
Lúc 08h00, ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm TAND khu vực 15 – Đắk Lắk, điểm cầu thành phần tại TAND khu vực 13 – Đắk Lắk và được kết nối tại 16 điểm cầu truyền hình trực tuyến trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk. TAND khu vực 15 – Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm phiên tòa rút kinh nghiệm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 của TAND khu vực 15 – Đắk Lắk đối với bị cáo:
Lê Đức T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 16-02-2000; tại Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã S, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L T1, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Thu M, sinh năm 1978; vợ là chị Võ Khánh D, sinh năm 2001; có 01 con, sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-06-2025 cho đến nay.
Bị cáo được trích xuất đến tòa tại điểm cầu thành phần TAND khu vực 13 - Đắk Lắk. Có mặt tại TAND khu vực 13 – Đắk Lắk.
1
* Những người bị hại:
1. Bị hại: Kpắ Thị Yến H1 (Kpă Thị Yến H1), sinh ngày 08-6-2016, nơi thường trú: Buôn Thô, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị hại H1:
Chị Hờ C, sinh ngày 08-11-1992, nơi thường trú: Buôn Thô, xã S, tỉnh Đắk Lắk (mẹ đẻ của bị hại H1). Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị hại: Lê Mô Thanh T2, sinh ngày 04-02-2021, nơi thường trú: Buôn Trinh, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại T2:
Chị Hờ H2, sinh ngày 16-8-1992, nơi thường trú: Buôn Trinh, xã E, tỉnh Đắk Lắk (mẹ đẻ của bị hại T2). Có mặt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Tiến Đ, sinh ngày 21-10-2003, nơi thường trú: Thôn M, xã P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bà Trần Thị Thu M, sinh ngày 20-02-1978, nơi thường trú: Thôn M, xã S, tỉnh Đắk Lắk (mẹ đẻ của bị cáo). Có mặt.
3. Chị Võ Khánh D, sinh ngày 19-5-2001, nơi thường trú: Thôn M, xã S, tỉnh Đắk Lắk (vợ của bị cáo). Có mặt.
* Người làm chứng:
Anh Y Đ1 (M), sinh ngày 01-01-1990, nơi thường trú: Buôn Trinh, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn có tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 21-06-2025 T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 78L1-076.98 (do bà Trần Thị Thu M là mẹ ruột của T cho T sử dụng) khi đi đến đoạn đường vắng thuộc buôn T, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T phát hiện cháu Kpắ Thị Yến H1 (Kpă Thị Yến H1), sinh ngày 08-6-2016 đang đi bộ trên tay cầm một điện thoại di động hiệu POCO C40, màu đen (do bà H3 Cheo mẹ đẻ của H1 làm chủ sở hữu), T dừng xe lại và đi bộ đến chỗ cháu H1 giả vờ hỏi nhà người quen, lợi dụng lúc cháu H1 sơ hở, T giật lấy điện thoại và lên xe tẩu thoát. Tiếp đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô rẽ vào đường bê tông liên thôn thuộc buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk, T phát hiện cháu Lê Mô Thanh T2, sinh ngày 04-02-2021 đang ngồi xem điện thoại trước cửa nhà. T dừng xe ngoài đường,
2
đi bộ đến chỗ cháu T2, lợi dụng lúc cháu T2 không để ý, T giật lấy điện thoại di động hiệu VIVO Y17S, màu xanh tím đang cầm trên tay (do bà Hờ H2 mẹ đẻ cháu T2 làm chủ sở hữu), rồi T ra xe bỏ chạy. Sau đó, T mang điện thoại di động hiệu POCO C40, màu đen đến một tiệm điện thoại tại Phường T, tỉnh Đắk Lắk (không xác định được địa chỉ cụ thể) để bẻ khóa, rồi T mang 02 điện thoại di động vừa cướp giật được đến bán cho Hoàng Tiến Đ thu được 1.900.000đ(một triệu chín trăm nghìn đồng) T tiêu xài gần hết, còn khoảng 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) T lén bỏ vào ví của D (vợ của T). Sau đó, T bị cơ quan chức năng phát hiện, bị bắt khẩn cấp để xử lý.
Tại kết luận định giá tài sản số 482/KL-HĐĐGTSTX ngày 26-9-2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk kết luận: 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y17S, màu tím xanh mua mới tháng 11 năm 2023 đã qua sử dụng trị giá 1.200.000₫ (một triệu hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu POCO C40, màu đen đã qua sử dụng trị giá 1.000.000₫ (một triệu đồng). Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.200.000₫ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 12-11-2025 của VKSND khu vực 15 – Đắk Lắk) đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, biết sai và đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền để khắc phục hậu quả thiệt hại. Nhờ Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Những người bị hại:
1. Bị hại: Kpắ Thị Yến H1 (Kpă Thị Yến H1), sinh ngày 08-6-2016, chị Hờ C (mẹ đẻ của cháu H1) theo các biên bản ghi lời khai tại các bút lục từ số 127 đến 128 cháu H1 trình bày: Sáng ngày hôm đó (không nhớ ngày mấy) mẹ cháu đi rẫy từ sáng sớm, trước khi đi làm thì mẹ cho cháu mượn điện thoại để cháu chơi, đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày thì cháu đi bộ đến tạp hóa ở đầu buôn T để mua bánh, sau khi mua bánh xong thì cháu đi bộ về nhà trên tay cháu cầm bánh và điện thoại di động, trên đường đi thì có chú (chỉ bị cáo) đi xe mô tô màu đỏ đen, mặc quần dài, áo shipper màu đỏ đến gần lại chỗ cháu hỏi “cháu có biết nhà ông H4 ở đâu không”, cháu trả lời “cháu không biết” thì chú này tiến đến chỗ cháu dùng tay giật điện thoại cháu đang cầm trên tay, rồi chú đó điều khiển xe bỏ chạy ra đường hướng đến cổng chào buôn T3, cháu sợ quá nên chạy về kể lại cho ông của cháu nghe toàn bộ sự việc. Hiện tại, chị Hờ C mẹ cháu H1 đã nhận lại điện thoại bị cướp giật, không có yêu cầu gì.
2. Bị hại: Lê Mô Thanh T2, sinh ngày 04-02-2021, chị Hờ H2 (mẹ đẻ của cháu T2) theo biên bản ghi lời khai tại bút lục số 122 cháu T2 trình bày: Sáng ngày
3
hôm đó mẹ cháu cho cháu mượn điện thoại di động để chơi, khi đang chơi điện thoại ở phòng khách của nhà cháu thì có một người đàn ông lạ đi vô giật điện thoại trên tay cháu rồi bỏ đi, sau đó cháu kể lại việc đó cho mẹ cháu và chỉ mẹ cháu biết người đã giật lấy điện thoại của cháu, cháu chỉ bị giật lấy điện thoại di động không bị đánh đập gì. Hờ H mẹ cháu T2 đã nhận lại điện thoại, không có yêu cầu gì.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Tiến Đ, theo bản tự khai và các biên bản ghi lời khai tại các bút lục từ số 51 đến 52, 138, 139, 140, 142 anh Đ trình bày: vào khoảng 09 giờ, ngày 21-6-2025 có người dùng Facebook “Hanh Phuc” nhắn messger cho tài khoản Facebook của Đ là “Đạt Adroid” để bán điện thoại di động loại VIVO Y 17S, thì Đ có hẹn gặp để kiểm tra điện thoại và báo giá. Khoảng 14h30 tại quán C2 (A L, thành phố T cũ) có một thanh niên đến chỗ Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) và nhận là chủ Facebook "Hanh Phuc”, có đưa Đ xem điện thoại di động loại VIVO Y17s, màu tím, máy không có mật khẩu màn hình. Sau khi kiểm tra thì Đ hỏi điện thoại này của ai, người thanh niên trên trả lời “điện thoại này của bạn nhờ bán dùm” Đ đồng ý mua và trả 1.200.000₫ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi nhận tiền, người thanh niên trên rời đi đâu Đ không biết, Đ tiếp tục ngồi uống cà phê đến khoảng 15h30’thì Đ về lại nhà. Đến khoảng 16h thì người thanh niên trên tiếp tục dùng messger Facebook “Hanh Phuc” gọi cho Đ để bán một điện thoại nữa, Đ hẹn gặp tại cầu T, huyện P cũ gặp. Đến khoảng 16h15 thì Đ gặp lại thanh niên khi sáng hẹn địa điểm trên, thanh niên đưa cho Đ một điện thoại di động hiệu POCO C40, màu đen, không có khóa màn hình, Đ kiểm tra và trả 700.000₫ (bảy trăm nghìn đồng). Sau khi nhận tiền thì người thanh niên trên đi đâu, làm gì Đ không biết. Công an phát hiện tìm đến Đ, Đ khai không biết là điện thoại do cướp giật mà có nên đã giao nộp lại cho Công an, hiện tại anh Đ đã được gia đình thanh niên (bị cáo T) trả lại 1.900.000đ (một triệu chín trăm nghìn đồng). Đ không có yêu cầu gì, nhờ tòa xem xét giải quyết.
2. Bà Trần Thị Thu M (mẹ đẻ của bị cáo) theo bản tự khai và biên bản ghi lời khai tại bút lục số 135 chị M trình bày: Xe mô tô biển kiểm soát 78L1-076.98 là xe do chị M đứng tên sở hữu, khoảng năm 2018 chị M cho T (con chị M) để sử dụng đi học rồi sau đó đi làm, không có giấy tờ tặng cho, vì con trong gia đình, không sang tên đổi chủ. Vào thời điểm trên, T sử dụng xe mô tô này đi làm Shipper cho một công ty chuyển phát nhanh tại thị trấn P (nay là xã T, tỉnh Đắk Lắk), làm được một thời gian thì nghỉ sau đó về làm mướn cùng với chị M. Ngày xảy ra sự việc cướp giật tài sản thì T được nghỉ làm, sau khi T có hành vi cướp giật tài sản thì chị M mới được thông báo về hành vi vi phạm pháp luật của T. Xe mô tô này chị M đã cho T thì T quyết định, chị M không yêu cầu nhận lại.
3. Chị Võ Khánh D (vợ của bị cáo) theo bản tự khai và biên bản ghi lời khai tại bút lục số 136 chị D trình bày: Sự việc cướp giật của T, chị D hoàn toàn không biết. Hôm đó, T chỉ nói là chơi uống cà phê với bạn chứ không nói gì về việc đi cướp giật tài sản. Chị D lúc đó sinh con được 14 tháng tuổi, đến trưa ngày hôm đó T về ăn cơm, chơi với con đến đầu giờ chiều lại đi, chị D chỉ biết là T đi chơi chứ không biết đi đâu, đến khi cơ quan công an đến nhà mời T lên làm việc thì chị D
4
mới biết T có hành vi cướp giật tài sản. Được biết, số tiền có được từ việc bán tài sản cướp giật được T đã tiêu xài cá nhân một phần, một phần gửi vào tài khoản ngân hàng của T, còn 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) T lẻn bỏ vào ví của chị D, chị D không biết.
Ngày 29-9-2025, chị D đã cùng mẹ chồng (chị M) mang 1.900.000₫ (một triệu chín trăm nghìn đồng) trả cho Đ là người mua hai điện thoại di động để trả tài sản lại cho người bị hại nhằm khắc phục thiệt hại, Đ không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Người làm chứng:
- Anh Y Đ1 trình bày: Sáng ngày 21-06-2025, anh Đ1 uống cà phê tại nhà ông Mười B ở Buôn T, xã E, cách nhà chị H2 khoảng 30m. Trong lúc đứng ở sau nhà, anh Đ1 nghe chị H2 đứng tại nhà la lên “có thấy thằng mặc áo đỏ đi qua không” thằng đó giật điện thoại của thằng cu rồi (tức cháu T2). Lúc này anh Đ1 nhìn ra đường thì thấy có một nam thanh niên mặc áo đỏ dừng xe mô tô tại đường bê tông. Anh Đ1 vội lấy xe mô tô của mình đuổi theo đến đoạn nhà ông C1 gần nhà văn hóa B1 thì thấy đối tượng trên chạy xe ngược lại hướng từ xã E đi xã E, nên anh Đ1 dừng lại gọi điện thoại báo công an xã và gọi người dân hỗ trợ, anh Đ1 tiếp tục chặn đường đối tượng và hỏi “sao mày giật điện thoại thằng cu” thì đối tượng trả lời “em không có” và phóng xe đi mất. Anh Đ1 đuổi theo một đoạn đến cây xăng E thì mất không còn thấy đối tượng. Sự việc được Công an tiếp tục điều tra.
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu là đúng, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xử phạt: Lê Đức T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22-06-2025.
Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Đề nghị HĐXX:
1. Tịch thu tiêu hủy, vì là phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng và bị cáo không xin nhận lại gồm:
- + 01 (một) áo khoác dù dài tay, màu đen, đã qua sử dụng;
5
- + 01 (một) áo thun màu đỏ, mặt sau có in chữ J&T EXPRES, mặt trước bên trái có in chữ J&T EXPRES, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) quần Jean dài, màu xanh bạc, hiệu BỜM STORE (ĐỒ NAM XỊN XÒ), đã qua sử dụng;
- + 01 (một) mũ bảo hiểm, loại nửa đầu, màu đen sọc xanh lá cây, phía trước mũ có in chữ SUNDY HELMÉT, có kính chắn gió, đã qua sử dụng;
2. Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y12, màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI (khe cắm thẻ SIM 1): 861177051751679, IMEI (khe cắm thẻ SIM 2): 861177051661, IMEI SV: 32, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 78 001014 do Công an xã H cấp ngày 16-02-2024.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, không bửng, biển kiểm soát 78L1-076.98, dung tích 110,3 cm3; số khung: RLCS5C6H0EY057463, số máy 5C6H057467.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 – Đắk Lắk lập ngày 14-11-2025).
Bị cáo còn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu, chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của các bị hại, của những người liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
6
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 21-06-2025 T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 78L1-076.98 đến buôn T, xã S, tỉnh Đắk Lắk, T thấy cháu H1 đang đi bộ trên tay cầm một điện thoại di động hiệu POCO C40, màu đen, T dừng xe lại rồi đi bộ đến chỗ cháu H1 giả vờ hỏi nhà người quen, lợi dụng lúc cháu H1 sơ hở, T giật lấy điện thoại và lên xe tẩu thoát. Tiếp đó, T vẫn điều khiển xe mô tô đó đến buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk, thấy cháu T2 đang ngồi xem điện thoại trước cửa nhà. T dừng xe, đi bộ đến chỗ cháu T2 giật lấy điện thoại di động hiệu VIVO Y17S, màu xanh tím đang cầm trên tay rồi T ra xe bỏ chạy. Tổng giá trị tài sản T cướp giật đã được định giá là 2.200.000₫ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 BLHS. Cáo trạng của VKSND khu vực 15 - Đắk Lắk truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Tại điểm g khoản 2 Điều 171 BLHS “tội cướp giật tài sản” quy định:
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm...
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;”
[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo Lê Đức T đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết về điều khiển nhận thức, điều khiển hành vi của trẻ em dưới 16 tuổi (một bị hại 09 tuổi, một bị hại 04 tuổi), bị cáo có một thời gian đi làm Shipper cho một công ty chuyển phát nhanh, nên biết lứa tuổi này thường được cha mẹ cho sử dụng điện thoại để chơi và không thể chống cự được nên bị cáo đã dùng thủ đoạn cướp giật tài sản ngay tức khắc tài sản của các bị hại đang sử dụng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt được là 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo phạm tội hai lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ:
7
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại là 1.900.000₫ (một triệu chín trăm nghìn đồng). Đây là các tình tiết được quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa tội phạm.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo chưa có nhà ở, thu nhập còn phụ thuộc gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hàng ngày phải đi làm thuê kiếm sống, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Hoàng Tiến Đ đã mua của bị cáo T hai điện thoại di động tài sản do T phạm tội mà có, nhưng Đ không biết tài sản do phạm tội mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với Trần Thị Thu M là người đứng tên trong giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 78L1-076.98, xe này bà M đã cho T sử dụng từ năm 2018 đến khi phạm tội, việc T sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội bà M không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Đã bồi thường xong nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
[9] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
[1] Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22-6-2025.
8
* Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Đức T.
[2] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
2.1. Tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng và bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại gồm:
- + 01 (một) áo khoác dù dài tay, màu đen, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) áo thun màu đỏ, mặt sau có in chữ J&T EXPRES, mặt trước bên trái có in chữ J&T EXPRES, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) quần Jean dài, màu xanh bạc, hiệu BỜM STORE (ĐỒ NAM XỊN XÒ), đã qua sử dụng;
- + 01 (một) mũ bảo hiểm, loại nửa đầu, màu đen sọc xanh lá cây, phía trước mũ có in chữ SUNDY HELMÉT, có kính chắn gió, đã qua sử dụng;
2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y12, màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI (khe cắm thẻ SIM 1): 861177051751679, IMEI (khe cắm thẻ SIM 2): 861177051661, IMEI SV: 32 đã qua sử dụng.
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 78 001014 do Công an xã H cấp ngày 16-02-2024.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, không bửng, biển kiểm soát 78L1-076.98, dung tích 110,3 cm3; số khung: RLCS5C6H0EY057463, số máy 5C6H057467.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 – Đắk Lắk lập ngày 14-11-2025).
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Đức T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Châu Kha |
10
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK về cướp giật tài sản
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T phạm tội “Cướp giật tài sản”
