Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-12-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực;

Ông Phan Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 413/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 311/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973. Thường trú: số E ấp M, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1971. Thường trú: số D, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 7 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Chí H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 08/3/2001 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01/2001. Thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Ông H đam mê cờ bạc, nhậu nhẹt với bạn bè, không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho cuộc sống gia đình.

Một mình bà Đ phải đứng ra lo toan mọi việc trong gia đình. Bà Đ đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Quá trình kết hôn vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 24/9/2001, cháu K đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Nay, bà Nguyễn Thị Đ không còn tình cảm gì đối với ông H, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân từ tháng 01/2025, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình sinh sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân nào hòa giải mâu thuẫn và cũng không được cơ quan, tổ chức, cá nhân nào triệu tập để hòa giải mâu thuẫn. Nay, Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Chí H.
  2. Về con chung: Quá trình sinh sống có 1 con chung là Nguyễn Chí K, sinh ngày 24/9/2001, cháu K đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Chí H trình bày ý kiến: Ông H đồng ý với các yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Đ vì tình cảm không còn. Đồng thời do bận công việc nên ông H1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông H trong suốt quá trình tố tụng.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Chí H là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1971; thường trú: số D, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn ông Nguyễn Chí H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ với bị đơn ông Nguyễn Chí H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 08/3/2001 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01/2001 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà Đ trong thời gian chung sống giữa bà Đ và ông H, thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Ông H đam mê cờ bạc, nhậu nhẹt với bạn bè, không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Một mình bà Đ phải đứng ra lo toan mọi việc trong gia đình. Bà Đ đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau, đã sống ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Bị đơn ông Nguyễn Chí H xác định không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Đ, đồng thời đồng ý với các yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông H đã trầm trọng nên việc bà Đ yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống bà Đ và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 24/9/2001. Xét thấy, hiện nay cháu K đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các đương sự không tranh chấp nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề con chung.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn Chí H về việc “Tranh chấp ly hôn”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Chí H (Giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 08/3/2001).
    • - Về con chung: đã thanh niên, không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020453 ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - UBND xã Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 257/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 257/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ với bị đơn ông Nguyễn Chí H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger