Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

Bản án số: 253/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 26-12-2025

V/v: Ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm A, xã H, tỉnh Ninh Bình.
  • Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm A, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà: Chị M, anh T đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 11 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Mai Văn T tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/12/2024. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, hai người không tìm được tiếng nói chung, không có sự cảm thông chia sẻ, thường xuyên hay cãi chửi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị M đã rất cố gắng để vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng không có kết quả. Do cuộc sống vợ chồng căng thẳng nên chị M và anh T đã sống ly thân từ đầu tháng 10 năm 2025 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị M nhận thấy không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc cùng nhau nên xin được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị M và anh T không có con chung, hiện nay chị M không có thai.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ tài sản của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 24/11/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Mai Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Việc anh T và chị M có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/12/2024 và diễn biến cuộc sống vợ chồng như chị M trình bày là đúng. Tháng 6 năm 2025, chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh T đã đến đón chị M về chung sống cùng nhưng vợ chồng chỉ hạnh phúc được mấy tháng, đến tháng 10 năm 2025 chị M lại bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay. Anh T đã rất cố gắng để vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng không có kết quả. Anh và chị M đã sống ly thân từ ngày 01/10/2025 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị M xin ly hôn, anh T không nhất trí ly hôn vì anh còn tình cảm với chị M, mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Chị M và anh T không có con chung, hiện nay chị M không có thai.

Về tài sản chung, nợ chung về tài sản của vợ chồng: Anh T không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị M vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Mai Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Mai Văn T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/12/2024 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mặc dù cả hai đã cố gắng nhưng vẫn không thể chung sống hòa hợp và đã sống ly thân từ tháng 10/2025 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Chị M xác định không còn tình cảm với anh T nên xin được ly hôn anh T. Anh T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, không hạnh phúc nhưng không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với chị M.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M thấy thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị M và anh T không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng đang sống ly thân, chấm dứt mọi sự quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh T mong muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị M và anh T không thể đoàn tụ. Như vậy, cuộc sống vợ chồng giữa chị M và anh T không thể tiếp tục do mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn anh T là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Mai Văn T không có con chung, hiện nay chị M không có thai.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị M phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Mai Văn T.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị M đã nộp theo Biên lai thu số 0002982 ngày 19/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị M đã nộp đủ án phí ly hôn.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M và anh Mai Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Hải Hưng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 253/2025/HNGĐ - ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 253/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị M và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger