Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-12-2025

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Ngọc Phương.

Ông Lê Văn Công.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 437/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 139/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1979; thường trú: I khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số B đường T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Mai Văn T, sinh năm 1976; thường trú: I khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/8/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Đoàn Thị L trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị L và ông Mai Văn T tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và về sống chung với nhau từ năm 1996. Đến năm 2005 ông bà đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/05 ngày 07/9/2005. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm kinh tế để phát triển kinh tế gia đình mà hay nhậu nhẹt say xỉn, gây áp lực về tinh thần đối với bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 đến nay. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với ông Mai Văn T.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Đoàn Cẩm T1, sinh ngày 23/6/1997. Hiện nay con chung đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Mai Văn T không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa chấp hành pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Mai Văn T có đăng ký thường trú, cư trú tại địa chỉ I khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, con chung đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn.

Quá trình tố tụng ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, bà L có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự nguyện tìm hiểu chung sống, có đăng ký kết hôn tại tại ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/05 ngày 07/9/2005, do đó hôn nhân của bà L và ông T là hợp pháp.

Quá trình tố tụng toà án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng nhưng địa phương không rõ, bà L trình bày vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm kinh tế để phát triển kinh tế gia đình mà hay nhậu nhẹt say xỉn, gây áp lực về tinh thần đối với bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông T không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến coi như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Ông bà đã có thời gian sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống, do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà L về việc ly hôn với ông T.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Đoàn Cẩm T1, sinh ngày 23/6/1997. Hiện nay con chung đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị L đối với bị đơn ông Mai Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị L được ly hôn với ông Mai Văn T.

- Về con chung: Con chung Mai Đoàn Cẩm T1, sinh ngày 23/6/1997. Hiện nay con chung đã trên 18 tuổi nên không giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đoàn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0024780 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 252/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L - T ly hôn, tc nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger