Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 26-12-2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2025/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Ninh Bình.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T2; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà: Chị T, anh T1, bà T2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 10 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn T1 có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cũ (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 09/10/2009 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, mặc dù cả hai đều đã cố gắng để chung sống hòa thuận nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh T1, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên xin được ly hôn anh T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 05 con chung gồm: Phạm Tiến D, sinh ngày 19/12/2010; Phạm Thanh T3, sinh ngày 04/09/2012; Phạm Quang T4, sinh ngày 11/04/2015; Phạm Thái H, sinh ngày 15/8/2018; Phạm Minh C, sinh ngày 11/01/2023. Hiện cả năm con đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T muốn trực tiếp nuôi dưỡng cả 5 con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi 5 con một tháng là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng một tháng, tức một triệu năm trăm nghìn đồng một con một tháng), thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 01/2026 đến khi các con chung thành niên. Hiện nay chị T đang làm công nhân may ở gần nhà, mức thu nhập bình quân 7.000.000 đồng một tháng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 205/2025/TLST – HNGĐ, ngày 29/10/2025, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là anh Phạm Văn T1 để anh T1 biết và có ý kiến bằng văn bản về yêu cầu xin ly hôn, nguyện vọng nuôi con khi ly hôn của chị T gửi Tòa án và đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, anh T1 không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T gửi Tòa án và cũng không đến Tòa làm việc mà không có lý do.

Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng, bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà T2 là mẹ đẻ của anh Phạm Văn T1. Anh T1 và chị T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống, anh T1 chị T chung sống bình thường tại nhà riêng của anh chị. Anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do đâu bà T2 không biết, hiện anh T1 và chị T đang sống ly thân. Chị T đưa các con về nhà mẹ đẻ sống còn anh T1 ở nhà riêng cạnh nhà bà T2 nhưng thường xuyên đi làm ăn ở xa. Chị T, anh T1 có 5 con chung như chị T trình bày là đúng. Anh T1 đã biết việc chị T xin ly hôn nhưng do bận công việc nên anh T1 không đến Toà án làm việc được, anh T1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án, việc thụ lý, giải quyết, thu thập tài liệu chứng cứ, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng và trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56, các Điều 81, 82, 83,110,116,117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình:

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn T1;

Về con chung: Giao 05 con chung gồm: Phạm Tiến D, sinh ngày 19/12/2010; Phạm Thanh T3, sinh ngày 04/09/2012; Phạm Quang T4, sinh ngày 11/04/2015; Phạm Thái H, sinh ngày 15/8/2018; Phạm Minh C, sinh ngày 11/01/2023 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận yêu cầu của chị T về cấp dưỡng nuôi con, buộc anh T1 cấp dưỡng nuôi 5 con chung là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng một tháng). Anh T1 và chị T có mọi quyền, nghĩa vụ đối với các con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không giải quyết.

Về án phí: Các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, người làm chứng bà Nguyễn Thị T2 có ý kiến xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn T1 có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cũ (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 09/10/2009 trên cơ sở tự nguyện, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nên xin được ly hôn với anh T1.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T thấy, thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh T1 không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng đang sống ly thân, chấm dứt mọi sự quan tâm đến nhau. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, hai người không có biện pháp, hành động để hàn gắn tình cảm; mặt khác anh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc chị T xin ly hôn nhưng đến nay không có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng minh anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.

[3] Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn T1 có 05 con chung: Phạm Tiến D, sinh ngày 19/12/2010; Phạm Thanh T3, sinh ngày 04/09/2012; Phạm Quang T4, sinh ngày 11/04/2015; Phạm Thái H, sinh ngày 15/8/2018; Phạm Minh C, sinh ngày 11/01/2023 hiện đều đang ở cùng chị T. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi cả 5 con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi 05 con 7.500.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ tháng 01 năm 2026 đến khi các con chung thành niên. Anh T1 không có ý kiến về việc nuôi con chung khi ly hôn. Các con chung đều có nguyện vọng được ở cùng chị T nếu bố mẹ ly hôn.

Xét nguyện vọng của chị T và các con chung thấy: các con chung còn nhỏ, cần có sự quan tâm chăm sóc của mẹ và hiện đều đang ở cùng chị T; anh T1 cũng không thường xuyên ở nhà, trong khi đó chị T làm công nhân may ở gần nhà nên có điều kiện chăm sóc các con chung; để tránh xáo trộn cuộc sống của các con chung và để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con chung phát triển toàn diện cả tâm lý và vật chất, cần chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con khi ly hôn của chị T: giao 05 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 05 con 7.500.000 đồng/tháng (tương đương mỗi con 1.500.000 đồng/tháng), thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 01/2026 đến khi các con chung thành niên theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân gia đình. Chị T và anh T1 có mọi quyền và nghĩa vụ đối với các con chung theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn, bị đơn anh Phạm Văn T1 là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải nộp án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn T1.

2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Giao 05 con chung gồm cháu: Phạm Tiến D, sinh ngày 19/12/2010; Phạm Thanh T3, sinh ngày 04/09/2012; Phạm Quang T4, sinh ngày 11/04/2015; Phạm Thái H, sinh ngày 15/8/2018; Phạm Minh C, sinh ngày 11/01/2023 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Phạm Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 05 con chung mỗi tháng 7.500.000 đồng/tháng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng một tháng - tương đương mỗi con 1.500.000 đồng một tháng), thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 01/2026 đến khi các con chung thành niên. Anh T1 và chị T có mọi quyền và nghĩa vụ đối với các con chung theo quy định của pháp luật. Hiện cháu D, cháu T3, cháu T4, cháu H và cháu C đang ở cùng chị T.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0002368 ngày 29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn.

Anh Phạm Văn T1 phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Hải Tiến;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2025/HNGĐ - ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn.

  • Số bản án: 252/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị T và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger