Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2025/DS-ST

Ngày: 31-12-2025

V/v tranh chấp Đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phan Ngọc Thạch;
  2. Ông Bùi Duy Thấm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Mỳ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 466/2025/TLST-DS ngày 13/10/2025 về tranh chấp Đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh C; địa chỉ trụ sở: Tổ E, ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh); CCCD số: 072189000349; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1973; CCCD số: 074173004610; nơi cư trú: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  2. Ông Phan Trung T, sinh năm 1964; CCCD số: 074064000071; nơi cư trú: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Việt T1, sinh năm 1961, CCCD số: 072061005422; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  2. Bà Hà Thị N1, sinh năm 1971, CCCD số: 072171003220; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  3. Người đại diện hợp pháp của ông Cao Việt T1 và bà Hà Thị N1: Chị Trần Thị Hiếu N, sinh năm 1989; CCCD số: 072189000349; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/10/2025), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Chị Trần Thị Hiếu N, sinh năm 1989; CCCD số: 072189000349; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  5. Cháu Cao Minh H, sinh ngày 11/9/2014; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
  6. Cháu Cao Ngọc Khả H1, sinh ngày 07/02/2018; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của cháu Cao Minh H và cháu Cao Ngọc Khả H1: Chị Trần Thị Hiếu N, sinh năm 1989; CCCD số: 072189000349; nơi cư trú: Số D, đường L, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 13/10/2025, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Hiếu N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát trình bày:

Ngày 19/12/2016, chị N có bán phân bón cho ông T và bà D đầu tư trồng mì với tổng số tiền là 225.900.000 đồng, sau khi thu hoạch mì ông T và bà D không thanh toán tiền phân bón cho chị N mặc dù đã có điện thoại nhắc nợ và đến nhà đòi nhiều lần nhưng vẫn không trả cho chị N.

Nay khởi kiện chị N yêu cầu Tòa án buộc ông T và bà D trả cho chị N số tiền gốc là 225.900.000 đồng, chị N không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, chị N không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:

Bà D và H2 kinh doanh Cao P do chị N làm chủ hộ đã quen biết nhau từ lâu (khoảng được hơn 10 năm) vì bà D có mua phân bón của H2 kinh doanh Cao Phát nhiều lần. Khi mua phân bón thì H2 kinh doanh Cao P đều cho lấy phân bón trước và trả tiền sau. Năm 2016, bà D có mua phân bón nhiều lần đến cuối năm 2016 thì bà D có nợ H2 kinh doanh Cao P số tiền 225.900.000 đồng và bà D có làm giấy nhận nợ vào ngày 19/12/2016 cho H2 kinh doanh Cao P. Nội dung Giấy nhận nợ ngày 19/12/2016 do bà D viết và ký tên. Trong giấy nhận nợ có nội dung “Phan Trung T 1964, chồng tên T SCM 074064000071, Diểm SCM 290775646” do ai viết thì bà D không biết. Sau khi viết giấy nhận nợ thì khoảng 01 tháng sau bà D có trả cho H2 kinh doanh Cao P được số tiền 50.000.000 đồng, số tiền 50.000.000 đồng bà D đưa tiền mặt cho anh Cao Minh P (chồng chị N - đã chết), khi đưa tiền thì bà D không làm giấy giao nhận tiền, không có ai chứng kiến. Mục đích bà D mua phân bón của Cao P để trồng khoai mì (bón cho rẫy khoai mì), rẫy mì bà D thuê của người khác để trồng.

Khoảng năm 2018 – 2019 thì bà D với ông T mới ly hôn, năm 2016 thì ông T làm nhân viên của Ban Q, do năm 2019 làm ăn thất bại dẫn đến nợ nần nên bà D và ông T thường xuyên xảy ra xích mích, mâu thuẫn và đã ly hôn. Thời điểm mua bán mì có lời thì tiền kiếm được bà D dùng để chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình và chu cấp cho con học đại học.

Nay bà D đồng ý trả số tiền gốc là 225.900.000 đồng cho H2 kinh doanh C, đối với số tiền 50.000.000 đồng mà bà D đã trả cho anh Cao Minh P thì bà D không yêu cầu phải cấn trừ vào số tiền 225.900.000 đồng, vì từ ngày 19/12/2016 đến nay bà D cũng chưa trả tiền lãi cho số tiền 225.900.000 đồng.

Ông T không liên quan đến số tiền bà D nhận nợ của H2 kinh doanh Cao P vì chỉ một mình bà D thuê rẫy trồng mì, một mình bà D mua phân bón của H2 kinh doanh Cao Phát. Do đó, ông T không có nghĩa vụ phải trả tiền cho H2 kinh doanh C.

Tòa án có gửi giấy triệu tập nhiều lần cho bà D và ông T, ông T có nhận thay bà D. Ông T và con trai bà D có thông báo cho bà D biết, tuy nhiên, do bà D đi làm ở Tp . (bà D giúp việc nhà cho người khác) nên không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án được. Hôm nay (ngày 16/12/2025), bà D mới xin nghỉ được nên mới đến Tòa án để làm việc. Hôm nay, Tòa án tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà D và ông T xét xử vào sáng ngày 08 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 12 năm 2025 nhưng bà D không muốn nhận, bà D đề nghị Tòa án gửi qua đường bưu điện cho bà D và ông T.

Bị đơn ông Phan Trung T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Việt T1, bà Hà Thị N1, cháu Cao Minh H và cháu Cao Ngọc Khả N2 do chị Trần Thị Hiếu N là Người đại diện hợp pháp thống nhất với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hiếu N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:

  • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Cao Phát đối với bà D và ông T về số tiền còn nợ là 225.900.000 đồng.
  • + Về án phí: Bà D, ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. (Ông T không có đơn miễn án phí).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án này anh Cao Minh P là chồng của chị Trần Thị H3 N được xác định là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên, do anh Cao Minh P đã chết ngày 26/02/2025 (chết trước khi chị Trần Thị Hiếu N khởi kiện) nên Hội đồng xét xử xác định những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bao gồm: Ông Cao Việt T1 và bà Hà Thị N1 (là cha mẹ ruột của anh Cao Minh P); chị Trần Thị Hiếu N (vợ anh Cao Minh P); cháu Cao Minh H và cháu Cao Ngọc Khả H1 (con ruột anh Cao Minh P).
    2. [1.2] Về việc tham gia tố tụng tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Trần Thị Hiếu N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát vắng mặt, có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Cao Việt T1, bà Hà Thị N1, chị Trần Thị Hiếu N, cháu Cao Minh H, cháu Cao Ngọc Khả H1 vắng mặt; Người đại diện hợp pháp của ông Cao Việt T1, bà Hà Thị N1, cháu Cao Minh H, cháu Cao Ngọc Khả H1 là chị Trần Thị Hiếu N vắng mặt, có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có lý do, căn cứ Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự.
  2. [2] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị Hiếu N yêu cầu bà D, ông T trả lại 225.900.000 đồng tiền gốc và yêu cầu tính lãi suất 0.83%/tháng, tạm tính là 198.746.820 đồng (225.900.000 đồng x 0.83%/tháng x 106 tháng) nên Tòa án thụ lý quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, đến ngày 16/12/2025, chị N có đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị N chỉ yêu cầu ông T, bà D trả lại số tiền gốc còn nợ là 225.900.000 đồng và không yêu cầu tính lãi, do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp là Đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự.
  3. [3] Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T trả số tiền gốc là 225.900.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

    Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D đồng ý trả tiền cho H2 kinh doanh Cao Phát số tiền 225.900.000 đồng.

    Bị đơn ông Phan Trung T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

    1. Xét yêu cầu khởi kiện của chị N thấy rằng:
      1. [3.1.1] Chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát có cung cấp cho Tòa án Giấy nhận nợ đề ngày 19/12/2016, có nội dung cụ thể như sau: “Giấy nhận nợ, tôi tên Nguyễn Thị Ngọc D, SN 1973 Địa chỉ: Ấp B S - T - Tây Ninh có nợ tiền diêm A. Cao minh Phát số tiền là 225.900.000 (hai trăm hai mươi lăm triệu chín trăm ngàn đồng chẳng, 19/12/2016, ký tên và ghi họ tên Nguyễn Thị Ngọc D)” (bút lục số 28). Bà D thừa nhận nội dung nhận nợ do bà D viết và ký tên. Do đó, có căn cứ xác định bà D có nợ chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao P số tiền là 225.900.000 đồng, chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát đã thực hiện xong nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
      2. [3.1.2] Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Ngọc D đồng ý trả cho chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát số tiền là 225.900.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
      3. [3.1.3] Xét yêu cầu ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho chị N - Chủ hộ kinh doanh C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay, ông T và bà D đã ly hôn với nhau theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 488/2020/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh). Tuy nhiên, thời điểm bà D nhận nợ chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát (ngày 19/12/2016), ông T và bà D là vợ chồng, vẫn còn sống chung nhà, số tiền bà D nhận nợ chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao P là không nhỏ, bà D trình bày tiền lời kiếm được từ việc mua bán mì để chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình và chu cấp cho con học đại học. Do đó, việc bà D cho rằng ông T không liên quan đến việc bà D nhận nợ tiền mua bán phân bón của chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát là không hợp lý, cần buộc ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao P là phù hợp với quy định tại Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. [4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh C, buộc bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát số tiền còn nợ là 225.900.000 đồng, ghi nhận chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T phải trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
    3. [5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

H4

  1. [6] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
    • - Chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát 10.459.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
    • - Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T phải chịu 11.295.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông T thuộc trường hợp được miễn án phí nhưng ông T không làm đơn yêu cầu nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát đối với bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T về việc tranh chấp Đòi lại tài sản.

    Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát số tiền nợ là 225.900.000 (hai trăm hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T phải trả tiền lãi.

    Kể từ ngày người được thi hành án chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T còn phải trả cho người được thi hành án chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao Phát số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí:
    • - Chị Trần Thị Hiếu N – Chủ hộ kinh doanh Cao P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho chị N - Chủ hộ kinh doanh Cao Phát tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.459.000 (mười triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn) đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007063 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
    • - Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Phan Trung T phải chịu 11.295.000 (mười một triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 252/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản giữa Hộ KD C với bà D, ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger