|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 250/2025/HS-ST Ngày: 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyến
- 2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 241/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
BÙI NHẬT TRƯỜNG, sinh ngày 08/3/1998; tại TP. H; nơi thường trú: số C B đường T, phường V, TP. H; chỗ ở: số A đường T, phường K, TP. H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phương H và bà Lương Thị Bích T; có vợ là Phạm Thúy A và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/5/2025; bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
- Ông Ngô Quốc H1, sinh năm 1997 (Có mặt)
Địa chỉ: số C đường Đ, Phường B, quận B, TP. H (nay là phường G, TP. H).
Địa chỉ liên lạc: số B đường số H, KDC T, Ấp E, xã B, huyện B, TP. H (nay là xã B, TP. H).
Địa chỉ: số B đường B, Phường B, Quận D, TP. H (nay là phường V, TP. H).
Địa chỉ liên lạc: số G đường L, phường C, thành phố T, TP. H (nay là phường C, TP. H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 6 năm 2023 đến ngày 24/5/2025, Bùi Nhật T1 đã cho 02 người vay tiền với lãi suất từ 120% đến 150%/năm, hình thức vay đứng, trả lãi vay hàng tháng, cụ thể:
- Vào ngày 05/6/2023, T1 cho anh Nguyễn Minh K vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng, thỏa thuận 15 ngày đến 30 ngày trả lãi 01 lần. Anh K đã trả lãi cho T1 được 02 tháng với số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Tiếp đến, ngày 15/9/2023 anh K vay thêm T1 số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng và thỏa thuận 30 ngày trả lãi một lần. T1 hẹn với anh K đến ngày 15 hàng tháng, ra quán cà phê để trực tiếp thu tiền lãi bằng hình thức nhận tiền mặt. T1 đã thu tiền lãi của anh K đến ngày bị kiểm tra phát hiện là 19 tháng, với số tiền là 63.500.000 đồng, cho cả 2 khoản vay, tương ứng lãi suất 120%/năm. Trường T2 là 10.583.334 đồng, tiền thu lợi bất hợp pháp là 52.916.667 đồng. Hiện K vẫn còn nợ của T1 số tiền 35.000.000 đồng (BL 145 - 147).
- Vào ngày 06/9/2023, T1 cho anh Ngô Quốc H1 vay số tiền 3.000.000 đồng, với lãi suất thỏa thuận là 15%/tháng. T1 sử dụng tài khoản của Trường S, Ngân hàng V1, chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của anh H1. Tiếp đến ngày 05/10/2023, anh H1 vay thêm T1 số tiền 2.000.000 đồng, với lãi suất 15%/tháng. T1 tiếp tục sử dụng tài khoản của T1, chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của H1. T1 đã thu tiền lãi của anh H1 là 18 tháng, với số tiền là 13.200.000 đồng, cho 02 khoản vay, tương ứng 180%/năm. Trường T2 là 1.466.667 đồng; thu lãi bất hợp pháp là 11.733.333 đồng. Hiện anh H1 vẫn còn nợ của T1 số tiền 5.000.000 đồng (BL 128 đến 131).
Như vậy, tổng số tiền mà T1 cho anh K và anh H1 vay là 40.000.000 đồng. T1 thu lãi bất hợp pháp từ việc cho anh K và anh H1 vay là 64.650.000 đồng và thu lợi hợp pháp là 12.050.001 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H, T1 khai nhận phù hợp với lời khai của anh K và anh H1, phù hợp với kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của T1 (BL 53 - 121; 122 - 166; 219 - 239).
Vật chứng của của vụ án: Tạm giữ của T1
- - 01 điện thoại di động iPhone 12 Pro max, số imel: 354876506272660, đã qua sử dụng, là tài sản của T1 sử dụng để cho vay lãi nặng.
- - 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số: 78MĐ2-003.05, số khung: RPXN4LHHVNE037560; số máy: VFHCHBC220806D01559, đã qua sử dụng.
Qua xác minh, xe máy điện này do anh Đỗ Quốc V (sinh năm: 1982; địa chỉ: số B đường N, Phường D, TP. H, tỉnh Phú Yên cũ) đăng ký đứng tên chủ xe. Ngày 22/3/2024, anh V bán lại chiếc xe này cho T1. Khi mua bán xe có làm Hợp đồng mua bán xe lập tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường P, phường T, TP. H.
Tang vật nêu trên, Viện kiểm sát có Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSKV1 ngày 21/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 và khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35; Điều 50; khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Nhật T1 số tiền từ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đến 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Quốc H1 có mặt và không có ý kiến.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh K vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN THẤY CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa; lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2023 đến ngày 24/5/2025, bị cáo Bùi Nhật T1 đã cho 02 người là Nguyễn Minh K và Ngô Quốc H1 vay tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất từ 120%/01 năm đến 180%/01 năm. Thực tế T1 thu lãi là 76.700.001 đồng, lãi hợp pháp theo quy định của Nhà nước là 12.050.001 đồng và thu lợi bất chính là 64.650.000 đồng. Hành vi của T1 đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
[3] Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và biết việc cho vay tiền với lãi suất cao hơn mức lãi suất mà pháp luật quy định là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi trên xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước, gây thiệt hại cho người vay, gây mất an ninh trật tự nên cần có một mức án để tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và chưa tiền án, tiền sự nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 01 điện thoại di động iPhone 12 Pro max của T1 sử dụng để cho vay lãi nặng, là công cụ phạm tội nên tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số 78MĐ2-003.05. Qua xác minh, xe máy điện này do anh Đỗ Quốc V đăng ký đứng tên chủ xe. Ngày 22/3/2024, anh V bán lại chiếc xe này cho T1, có lập Hợp đồng mua bán xe tại Văn phòng C, TP. H không liên quan đến vụ án nên giao trả lại cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm bị cáo được hưởng theo quy định Nhà nước tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước là 12.050.001 đồng.
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính là 64.650.000 đồng do vượt quá mức lãi suất quy định trên 20% nên buộc bị cáo có trách nhiệm nộp lại để trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể trả ông K là 52.916.667 đồng; ông H1 là 11.733.333 đồng.
- - Đối với số tiền gốc bị cáo chưa thu được (tiền gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và ông H1 chưa trả) phải buộc những người này có trách nhiệm nộp lại để tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước. Cụ thể là ông K phải nộp là 35.000.000 đồng; ông H1 phải nộp là 5.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 35; Điều 50; khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Nhật T1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone 12 Pro max, số IMEI: 354876506272660, đã qua sử dụng.
Giao trả cho bị cáo 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số 78MĐ2-003.05, số khung: RPXN4LHHVNE037560; số máy: VFHCHBC220806D01559.
Buộc bị cáo nộp số tiền 12.050.001 đồng để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo trả cho ông Nguyễn Minh K 52.916.667 đồng; ông Ngô Quốc H1 11.733.333 đồng.
Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm với số tiền sau để tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: Ông Nguyễn Minh K phải nộp 35.000.000 đồng; Ông Ngô Quốc H1 phải nộp 5.000.000 đồng.
(Tang vật tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; Giao trả cho bị cáo được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 96/QĐ-VKSKV1 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Quốc H1 được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh K được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |
Bản án số 250/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 250/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Nhật T1 - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
