Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 23-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Quyết
  2. Ông Bùi Văn Tấn

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16/05/1975. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hoàng Văn N (đã chết)và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1946; bị cáo có vợ là Vũ Thị T2, sinh năm 1976 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/09/2025 đến ngày 18/09/2025; hiện được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phú V. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14/02/1966. Nơi cư trú: Xóm S, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phan Thị T3, sinh năm 1933; bị cáo có vợ là Trần Thị B, sinh năm 1964 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/09/2025 đến ngày 18/09/2025; hiện được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Lương Văn Q. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23/05/1974. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lương Văn T4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1940; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/8/2018 bị Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (theo Quyết định số 62/QĐ-XPHC).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/09/2025 đến ngày 18/09/2025; hiện được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Bùi Văn D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05/04/1968. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Bùi Văn C1 (đã chết) và bà Bùi Thị B1, sinh năm 1933; bị cáo có vợ là Bùi Thị T5, sinh năm 1965 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/8/2018 bị Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (theo Quyết định số 61/QĐ-XPHC).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/09/2025 đến ngày 18/09/2025; hiện được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người chứng kiến:

+ Ông Phạm Văn T6, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Thái B2, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/9/2025, Hoàng Văn T, sinh năm 1975; Lương Văn Q, sinh năm 1974, cùng trú tại phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Bùi Văn D, sinh năm 1968, trú tại phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ cùng đi ăn sáng, uống rượu với nhau. Sau khi ăn sáng xong Hoàng Văn T, Bùi Văn D, Lương Văn Q cùng nhau đi về nhà Hoàng Văn T ngồi chơi uống nước chè, thì có Nguyễn Phú V, sinh năm 1966, trú tại xóm S, xã L, tỉnh Phú Thọ đến chơi. Cả 04 (bốn) người ngồi chơi uống nước được một lúc thì cùng nảy sinh ý định đánh bạc và rủ nhau đi vào gian nhà cấp 4 (bốn) của gia đình Hoàng Văn T thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh tú lơ khơ (đánh phỏm) với mục đích được thua bằng tiền mặt (tiền Việt Nam đồng).

Quy ước cách chơi là 20.000, 40.000, 60.000, 80.000 và 100.000 đ. Người ù nghĩa là người có 03 (ba) phỏm sẽ được 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/01 người thua. Người thắng tức là người có tổng số điểm thấp nhất, còn người thua sẽ lần lượt có tổng số điểm cao hơn tổng số điểm người thắng, người có tổng số điểm cao hơn xếp thứ 2 sẽ phải trả cho người thắng là 20.000đ (hai mươi nghìn đồng), người có tổng số điểm cao hơn xếp thứ 3 sẽ phải trả cho người thắng là 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng), người có tổng số điểm cao hơn xếp thứ 4 sẽ phải trả cho người thắng là 60.000₫ (sáu mươi nghìn đồng); người nào cháy bài không có phỏm thì sẽ phải trả cho người thắng là 80.000 đ (tám mươi nghìn đồng).

Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, trong khi Hoàng Văn T, Bùi Văn D, Lương Văn Q, Nguyễn Phú V đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng)loại tiền do Ngân hàng N2 phát hành; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài đã qua sử dụng và 01 (một) chiếu điều hòa đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định được số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau: Hoàng Văn T sử dụng 375.000 đồng, Nguyễn Phú V sử dụng 680.000 đồng, Bùi Văn D sử dụng 11.800.000 đồng, Lương Văn Q sử dụng 1.900.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.755.000đ đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ tại chiếu bạc:

  • Số tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) loại tiền do Ngân hàng N2 phát hành;
  • 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếu điều hoà kích thước 160x200cm, nhãn hiệu HƯƠNGLAN đã qua sử dụng.

Các vật chứng trên được niêm phong theo quy định, hiện chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 15 - Phú Thọ bảo quản chờ xử lý.

Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Vũ Thị T2 là chủ nhà nơi các bị cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn D, Lương Văn Q, Nguyễn Phú V thực hiện hành vi đánh bạc ngày 10/9/2025, bà T2 làm việc tại ga ra ô tô của gia đình, không biết những người trên có hành vi đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P không đề cập xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT- VKSKV15 ngày 07 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 15 – Phú Thọ, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật hình sự: xử phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D, mức hình phạt đối với từng bị cáo như sau:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T số tiền từ 21 - 23 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú V số tiền từ 21 - 23 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Lương Văn Q số tiền từ 23 -26 triệu đồng

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D số tiền từ 24 -27 triệu đồng

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu xuất hủy đối với: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm có 52 quân bài, bộ bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu điều hoà kích thước 160x200cm, nhãn hiệu HƯƠNGLAN đã qua sử dụng, được niêm phong theo quy định. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 14.755.000đ được niêm phong và giải quyết các vấn đề khác theo quy định.

Các bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt. Những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh P điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc và bản ảnh ngày 10/9/2025; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 10/9/2025, tại nhà ở của Hoàng Văn T thuộc phố L, xã L, tỉnh Phú Thọ; các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D đã thực hiện hành vi đánh bạc, sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm” với tổng số tiền tham gia 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Vì vậy, việc các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố về tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đủ khả năng nhận thức việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Song do vụ lợi, nên các bị cáo đã cố tình thực

hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền. Lỗi của các bị cáo trong vụ án là lỗi cố ý trực tiếp, do vậy các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã gây ra.

[4] Xét tính chất của vụ án, đây là vụ án đồng phạm về tội “Đánh bạc” có tính chất giản đơn, không có tổ chức, không có sự câu kết chặt chẽ, số tiền mỗi bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, chủ yếu do bộc phát nhất thời và hám lợi mà thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, để làm cơ sở cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử đã phân tích và xét thấy bị cáo Hoàng Văn T tham gia đánh bạc với số tiền 375.000 đồng, bị cáo Bùi Văn D tham gia đánh bạc với số tiền 11.800.000 đồng, bị cáo Nguyễn Phú V tham gia đánh bạc với số tiền 680.000 đồng, bị cáo Lương Văn Q tham gia đánh bạc với số tiền 1.900.000 đồng. Do đó trong vụ án này các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các cho bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Phú V có anh trai Nguyễn Văn B3 là liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trước khi phạm tội các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên trước đó 17/8/2018 các bị cáo Bùi Văn D, Lương Văn Q đã bị Công an huyện L, tỉnh Hoà Bình ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong).

[6] Xét thấy, việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đối với Vũ Thị T2 là chủ nhà, nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất hành vi và nhân thân của các bị cáo, cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung. Song các bị cáo đã được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]Về vật chứng của vụ án: Xét thấy, cần tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) Bộ bài tú lơ khơ gồm có 52 quân bài, bộ bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếu điều hoà kích thước 160 x 200cm, nhãn hiệu HƯƠNGLAN đã qua sử dụng. Đối với số

tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9]Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
      • + Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T số tiền 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng)
      • + Xử phạt bị cáo Lương Văn Q số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng)
      • + Xử phạt bị cáo Bùi Văn D số tiền 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng)
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phú V số tiền 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng)

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    1. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D.
  3. Về vật chứng của vụ án:

    Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên:

    • + Tịch thu xuất hủy đối với: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm có 52 quân bài, bộ bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu điều hoà kích thước 160x200cm, nhãn hiệu HƯƠNGLAN đã qua sử dụng, được niêm phong theo quy định.
    • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) bắt quả tang các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 10/09/2025; tiền do Ngân hàng N2 phát hành, được niêm phong theo quy định.

    ( Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 15 – Phú Thọ, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 02 ngày 11/11/2025 giữa bên giao Công an tỉnh P, bên nhận Phòng thi hành án dân sự khu vực 15 – Phú Thọ).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ (b/c);
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND KV15 – Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - PC 10 – Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo, người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Phú V, Lương Văn Q, Bùi Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger