|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- LÂM ĐỒNG Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày 30-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu và ông Lê Khải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Minh Đ, sinh năm 1978, tại tỉnh Nghệ An; căn cước công dân số 040078003862, cấp ngày 19/4/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: Thôn N, xã N1, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Đức Q (đã chết) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1956; có vợ là Lô Thị L, sinh năm 1981 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án không; tiền sự không; Bị cáo tại ngoại– Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1992 và chị Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1999 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã N3, tỉnh Lâm Đồng.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn T sinh năm 1986 và bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1987 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N1, tỉnh Lâm Đồng. - Ông Trần Văn C2, sinh năm 1984 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N1, tỉnh Lâm Đồng - Bà Trần Thị H1, sinh năm 1982 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn E, xã C, tỉnh Đăk Lắk - Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1994 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N1, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh Đ thường xuyên đi hái hoa chuối tại khu vực rẫy của anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị Hồng N2 tại thôn Đ, xã K, tỉnh Lâm Đồng, nên Đ biết được vợ chồng anh C1 vả chị N2 thường xuyên đi làm vào ban đêm không có mặt ở chòi rẫy, vì vậy Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào khoảng 01 giờ ngày 01/7/2025, Đ cầm theo 01 đèn pin rồi điều khiển mô tô biển kiểm soát (BKS) 48F2-1135 đến nhà rẫy của anh C1, chị N2, khi cách nhà rẫy của anh C1, chị N2 khoảng 01 km thì Đ để xe bên ven đường rồi đi bộ vào, khi đến cách nhà rẫy của anh C1, chị N2 khoảng 50m, thấy anh C1, chị N2 đi cạo mủ cao su trên vườn cách nhà khoảng 100 m, nên Đ đột nhập vào nhà rẫy của anh C1, chị N2 trộm cắp tài sản gồm: 01 (một) chiếc nhẫn vàng ở khu vực vách tường, 01 (một) cái đồng hồ ở khu vực bàn ghế ăn, 01 (một) dây chuyền bạc ở khu vực vách tường, số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) ở khu vực giường ngủ, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (Reno 11 5G, màu xám đen) ở khu vực giường ngủ, 01 áo khoác đen ở khu vực vách tường nhà, 01 mũ lưỡi trai màu đen ở khu vực tường nhà và 01 chiếc đèn pin ở khu vực tường nhà. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên thì Đ điều khiển xe đi về, khi đến khu vực cầu Đ1, Đ lấy đèn pin vừa trộm cắp trong nhà anh C1, chị N2 ra sử dụng nhưng do ánh sáng yếu nên Đ vứt đèn tại gần vị trí đặt biển báo của cầu. Khi anh C1, chị N2 về nhà phát hiện mất tài sản nên trích xuất hình ảnh camera của gia đình phát hiện 01 đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị N2 sử dụng hình ảnh trích xuất từ camera đăng tải trên mạng facebook cá nhân tên “Nhung Bi”.
Khoảng 20 giờ ngày 02/7/2025, Trần Văn T (Em trai của Đ) phát hiện tài khoản facebook “Nhung Bi” đăng tải đoạn video quay cảnh một người đàn ông vào nhà dân trộm cắp tài sản, nhận thấy người đàn ông đó là Trần Minh Đ nên đã hỏi Đ thì Đ thừa nhận việc mình trộm cắp tài sản. Sau đó, Trần Văn C, Phạm Thị H2, Nguyễn Ngọc H, Trần Thị H1 là các em của Đ nói chuyện và khuyên Đ mang tài sản đi trả thì Đ đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh C, chị H2, chị H, chị H1 và Đ đến chòi rẫy của anh C, chị N2 để trả lại tài sản, khi đến chòi rẫy Đ ở ngoài không vào trong nhà, anh C, chị H2, chị H, chị H1 gặp anh Nguyễn Văn C và trả lại cho anh Nguyễn Văn C , chị Nguyễn Thị Hồng N2 01 chiếc nhẫn vàng, 01 (một) cái đồng hồ, 01 (một) dây chuyền bạc, số tiền 3.700.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (Reno 11 5G, màu xám đen), 01 áo khoác. Anh Nguyễn Văn C, chị N2 thấy thiếu số tiền 2.800.000 đồng, 01 đèn pin và 01 mũ lưỡi trai nên yêu cầu trả lại thì anh C, chị H2, chị H, chị H1 hẹn đến ngày hôm sau sẽ trả. Sáng ngày 03/7/2025, anh Nguyễn Văn C gửi đơn trình báo đến Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng, khoảng 14 giờ ngày 03/7/2025, Đ, anh Trần Văn C1 và chị H1 mang số tiền 2.800.000 đồng và mũ lưỡi trai đến nhà anh Nguyễn Văn C và chị N2 tại thôn T, xã N3, tỉnh Lâm Đồng để trả thì bị Công an xã K phát hiện và lập biên bản vụ việc.
Tại Kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, trên nhẫn có gắn 15 viên màu trắng, được niêm phong gửi giám định là hợp kim của vàng (Au), bạc (Ag), đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng Au: 30,67%, Ag: 7,22%, Cu: 49,61%, Zn: 10,5%; tổng khối lượng: 1,8908g; + 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng, trên móc khóa của dây chuyền có ghi chữ “ITALY” và số “750” được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại Bạc (Ag), hàm lượng: 99,60%; tổng khối lượng: 18,5037g.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 2603/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng kết luận tại thời điểm ngày 01/7/2025: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; loại RENO 11 5G; màu xám đen; có giá trị: 2.767.000 đồng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu ELIO; có giá trị: 543.000 đồng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có giá trị: 1.717.000 đồng; 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng có giá trị: 705.000 đồng; 01 (một) áo khoác màu đen có giá trị: 90.000 đồng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có giá trị 50.000 đồng; 01 (một) đèn pin nhãn hiệu “T999” có giá trị: 93.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.965.000 đồng (năm triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS- KV9, ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 9 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ ngày 01/7/2025, tại Thôn Đ, xã K, tỉnh Lâm Đồng, Trần Minh Đ lén lút trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Hồng N2 các tài sản có tổng giá trị là 12.465.000 đồng (mười hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Như vậy hành vi của bị cáo Trần Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Minh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện trả lại tài sản cho bị hại và được bị hại có đơn đề nghị giảm hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của BLHS.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/12/2025.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng: Chấp nhận việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Hồng N2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BKS: 48F2-1135 và 01 đèn pin là công cụ phạm tội.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Văn Cảnh |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Đ phạm tội trộm cắp tài sản
