TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 248/2025/HS-ST Ngày 24/12/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yêm
Ông Lê Đăng Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/TLST-HS ngày 24/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/QĐXX-HS ngày 25/11/2025 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa ngày 08/12/2025, đối với:
* Bị cáo: DƯƠNG THỊ K, sinh năm 1987 tại Tuyên Quang; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn L, xã P, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Cao Lan (Sán Chay); Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Dương Xuân H (Đã chết); Họ tên mẹ: Đàm Thị T (Đã chết); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Chưa có; Con: Có 01 con sinh năm 2008; D chỉ bản số 3381 do PC11A, Công an thành phố H lập ngày 18/8/2025; Tiền sự: Không có; Tiền án: Tại bản án số 118/HSST ngày 15/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, kể từ ngày tuyên án, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 15/9/2024 (Chưa được xóa án tích). Tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2025 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 11/8/2025, Tổ công tác Công an xã S, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra nhà nghỉ G, ở khối A, xã S, thành phố Hà Nội, phát hiện tại Phòng 202 và 203 của nhà nghỉ có 02 đôi nam nữ đang có hành vi quan hệ tình dục.
Tại thời điểm kiểm tra Phòng 203: Người nam giới tự khai tên là Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1972, trú tại: Khu C, xã S, thành phố Hà Nội và nữ giới tự khai tên Dương Thị K, sinh năm 1987, trú tại: Thôn L, xã P, tỉnh Tuyên Quang.
Tại thời điểm kiểm tra Phòng 202: Người nam giới tự khai tên Vũ Đình V, sinh năm 1985, trú tại: K, xã S, thành phố Hà Nội và nữ giới tự khai tên Nguyễn Hồng A, sinh năm 1984, trú tại: P, T, Hà Nội.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 11/8/2025, đối tượng Nguyễn Xuân H1 nêu trên có tên thật là Nguyễn Xuân L, sinh năm 1972, trú tại: Thôn P, xã S, thành phố Hà Nội gọi điện cho Dương Thị K (có lý lịch nêu trên, K dùng tên giả là H2) đề nghị Kiểm môi giới cho Lịch 02 gái bán dâm đến nhà nghỉ để quan hệ tình dục. Lịch thoả thuận với K là trả cho gái bán dâm 500.000 đồng/1 người, và cho K 1.000.000 đồng tiền công môi giới. Kiểm rủ Nguyễn Hồng A (lý lịch nêu trên) cùng K đi bán dâm và thông báo lại cho L là có K và Hồng A thì L đồng ý. L đã chuyển khoản cho K vào số tài khoản 0984074487 tên Dương Thị K mở tại Ngân hàng TMCP Q số tiền 2.000.000 đồng. K đã trả cho Hồng A 500.000 đồng, K hưởng lợi 1.500.000 đồng. Sau đó, L thông báo cho K đến Phòng 202, 203 nhà nghỉ G, ở khối A, xã S, thành phố Hà Nội. Đến nhà nghỉ G, Hồng A đưa cho K 01 bao cao su, K đi vào Phòng 203 gặp và quan hệ tình dục với Nguyễn Xuân L; Hồng A vào Phòng 202 gặp và quan hệ tình dục với Vũ Đình V (lý lịch nêu trên). Quá trình quan hệ tình dục các đối tượng có sử dụng bao cao su. Khi đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan Công an đến kiểm tra, phát hiện.
Tiến hành kiểm tra điện thoại của Dương Thị K, phát hiện tin nhắn có liên quan đến việc thoả thuận trao đổi mua bán dâm giữa K và L. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản ghi nhận và chụp ảnh màn hình tin nhắn đưa vào hồ sơ vụ việc.
Tại cơ quan Công an, K và Hồng A khai: Do cần tiền tiêu xài nên các đối tượng đã thực hiện hành vi mua bán dâm. Hồng A không quen biết đối tượng L và V. Qua giới thiệu, môi giới nên Hồng A đã gặp và bán dâm cho V với giá 500.000 đồng. Hồng A đã nhận được tiền bán dâm 500.000 đồng từ Kiểm. Giữa V và Hồng A, giữa L và K không có mối quan hệ tình cảm yêu đương, không thân thiết, chỉ có mối quan hệ mua bán dâm. Lời khai của K và Hồng A phù hợp với lời khai của L và V.
Kết quả sao kê tài khoản xác định: Ngày 11/8/2025, Nguyễn Xuân L sử dụng tài khoản số 0610123459999 thực hiện 02 giao dịch chuyển khoản đến số tài khoản 0984074487 của Dương Thị K, mở tại Ngân hàng TMCP Q, tổng số tiền 02 lần giao dịch là 2.000.000 đồng
- Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
Tạm giữ của Dương Thị K: 01 vỏ bao cao su, kích thước (05x05)cm đã bị xé rách, trên vỏ bao in chữ tiếng nước ngoài; 01 bao cao su đã qua sử dụng, được niêm phong vào 01 phong bì dán kín các mép, có chữ ký của K, người chứng kiến và cán bộ Công an (BL 96, 97); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số imei 1: 863938079969546, imei 2: 863938079969553 bên trong có lắp 01 thẻ sim.
Tạm giữ của Nguyễn Hồng A: 01 vỏ bao cao su, kích thước (05x05)cm đã bị xé rách, trên vỏ bao in chữ tiếng nước ngoài; 01 bao cao su đã qua sử dụng, được niêm phong vào 01 phong bì dán kín các mép, có chữ ký của Hồng A, người chứng kiến và cán bộ Công an (BL 98, 99).
Toàn bộ số vật chứng nêu trên chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hà Nội để đảm bảo việc xét xử và thi hành án.
Đối với Nguyễn Xuân L và Vũ Đình V có hành vi mua dâm vi phạm khoản 1, Điều 24, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ; Nguyễn Hồng A có hành vi bán dâm vi phạm khoản 1, Điều 25, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, V và Hồng A về hành vi vi phạm nêu trên.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 18/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội đã truy tố bị cáo Dương Thị K về Tội môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thừa nhận có hành vi môi giới mại dâm như nội dung Cáo đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về Tội môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Dương Thị K từ 15 đến 18 tháng tù về Tội môi giới mại dâm. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì bên trong chứa vỏ bao cao su và bao cao su đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: (01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số imei 1: 863938079969546, imei 2: 863938079969553.
Truy thu của bị cáo số tiền 1.500.000 đồng do phạm tội mà có.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng tại giai đoạn điều tra, truy tố: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 ngày 11/8/2025, tại K, xã S, thành phố Hà Nội, Dương Thị K có hành vi môi giới cho Nguyễn Hồng A và Vũ Đình V mua bán dâm với giá 500.000 đồng. Kiểm tự bán dâm cho Nguyễn Xuân L với giá 500.000 đồng. Dương Thị K đã hưởng lợi 1.000.000 đồng tiền công môi giới từ Nguyễn Xuân L. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội truy tố bị cáo về Tội môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do hám lợi, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về Tội đánh bạc và bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính về hành vi bán dâm.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số imei 1: 863938079969546, imei 2: 863938079969553 là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền 1.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và đã tiêu xài cá nhân hết, cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
- - 02 phong bì bên trong chứa vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng và 01 phôi sim điện thoại là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[6]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tại phiên tòa: Cơ bản phù hợp với quy định pháp luật và kết quả nghị án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Thị K phạm Tội môi giới mại dâm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hình phạt:
Xử phạt: Dương Thị K 15 (Mười lăm) tháng tù về Tội môi giới mại dâm. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2025.
2. Về vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số imei 1: 863938079969546, imei 2: 863938079969553.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì bên trong chứa vỏ bao cao su, bao cao su đã qua sử dụng và 01 phôi sim điện thoại.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hà Nội tình trạng như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hà Nội).
- Buộc bị cáo Dương Thị K phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí sơ thẩm:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |
Bản án số 248/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tội môi giới mại dâm
- Số bản án: 248/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 00 ngày 11/8/2025, tại K, xã S, thành phố Hà Nội, Dương Thị K có hành vi môi giới cho Nguyễn Hồng A và Vũ Đình V mua bán dâm với giá 500.000 đồng. Kiểm tự bán dâm cho Nguyễn Xuân L với giá 500.000 đồng. Dương Thị K đã hưởng lợi 1.000.000 đồng tiền công môi giới từ Nguyễn Xuân L. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự
