Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Bản án số: 237/2025/HS-ST
Ngày: 25-12-2025
 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hiếu
  2. Bà Đàm Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 201/2025/TLST-HS ngày 06/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2025/QĐXXST-HS ngày 19/11 /2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/HSST –QĐ ngày 10/12/2025 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Ngọc N; sinh ngày 06 tháng 4 năm 1994; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số A đường T, Phường H, Quận D (nay là phường K), Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số A đường T, Phường H, Quận D (nay là phường K), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm bếp; trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhan Văn S; và bà Đỗ Thị Tuyết P; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 26/12/2022 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2024; tiền sự: không; bị bắt, giam, giữ từ ngày: 31/10/2024 (Có mặt)
  2. Nguyễn Xuân A; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1996; tại: Hòa Bình; hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (nay là phường H tỉnh Phú Thọ); chỗ ở: Số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá H; và bà Đậu Thị Minh T; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, giam, giữ từ ngày: 03/11/2024 (Có mặt)
  3. Nguyễn Thành Đ; sinh ngày 05 tháng 5 năm 2003; tại: Hậu Giang; hộ khẩu thường trú: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ); chỗ ở: Số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên spa; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết); và bà Cao Thị Ngọc M; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, giam, giữ từ ngày: 03/11/2024 (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân A: Ông Nguyễn Văn T2, Luật sư thuộc Trung tâm T4, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nhan Văn S, địa chỉ: Số A đường T, phường K, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Phạm D, địa chỉ: Số F đường L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Ngọc A1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số C đường T, Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số C đường số B, Phường K, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 30/10/2024, Công an phường D, Quận D (nay là Công an phường V) kiểm tra hành chính Phòng 305 nhà số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ có biểu hiện nghi vấn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về làm việc. Tiến hành xét nghiệm, Xuân A và Đ dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan Công an, Xuân A và Đ khai nhận có quan hệ yêu đương đồng tính nên từ đầu năm 2024 đã cùng thuê Phòng 305 nhà số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh của bà Đỗ Thanh H1 giá 3.500.000 đồng/tháng để ở, Xuân A là người đứng tên hợp đồng. Trong thời gian ở đây, do bản thân đều nghiện ma túy nên vào các ngày 01/9/2024, 08/9/2024, 15/9/2024, 22/9/2024, 06/10/2024, 13/10/2024, 20/10/2024 và ngày 27/10/2024, Xuân A, Đ đã 08 lần góp chung tiền mua ma túy “đá” (Methamphetamine) để cùng sử dụng. Mỗi lần sử dụng ma túy, Xuân A và Đ mỗi người góp 750.000 đồng. Xuân A liên hệ với Đỗ Ngọc N để đặt mua 01 gói ma túy “đá” giá 1.500.000 đồng, hẹn giao tại trước số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh. Xuân A là người trực tiếp nhận ma túy và chuyển khoản trả 1.500.000 đồng tiền mua ma túy mua ma túy từ tài khoản Ngân hàng T5 số 19036991421012 của Xuân A vào tài khoản Ngân hàng V số 9906917157 của Đỗ Ngọc Nhoặc tài khoản Momo số 99MM24529M48832638 do ông Nhan Văn S (cha ruột N) là chủ sở hữu. Sau đó, Xuân A, Đ đến số F đường L, Phường A, Quận A (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh gặp Nguyễn Phạm D để mua ống thủy tinh, có khi Đ mua qua mạng internet hoặc của những người khác (không rõ lai lịch) để đem về chế tạo dụng cụ sử dụng ma túy. Tại Phòng 305 nhà số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh, Đ lấy ống thủy tinh, bình nước khoáng hoặc bình nước C2, ống hút nhựa, cho nước vào chế tạo thành dụng cụ sử dụng ma túy. Xuân A lấy ma túy “đá” cho vào ống thủy tinh, dùng quẹt gas đốt nóng ma túy lên đưa cho Đ sử dụng trước, xong đến Xuân A sử dụng rồi thay phiên nhau sử dụng cho đến khi hết ma túy. Mỗi lần sử dụng ma túy xong, Xuân A đều ném bỏ hết các dụng cụ sử dụng ma túy vào thùng rác để tránh bị phát hiện.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, Công an phường D, Quận D (nay là Công an phường V) tuần tra đến trước số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Đỗ Ngọc N điều khiển xe Honda Wave màu xanh-đen-xám, biển số 54R3-3998 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Cơ quan Công an phát hiện trong túi áo bên trái phía trước của N đang mặc có 01 gói thuốc lá Saigon Silver, bên trong có 01 gói nylon màu xanh hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy. Nguyên khai nhận là ma túy “đá” cất giữ để bán cho người nghiện kiếm lời nên Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ vật chứng, đưa N về trụ sở Công an phường D, Quận D (nay là Công an phường V) lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành xét nghiệm, N dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan Công an, Đỗ Ngọc N khai nhận do nghiện ma túy nên nảy sinh ý định mua ma túy “đá” về bán kiếm lời. Tháng 08/2024, N lên trang mạng xã hội “Blue” để đặt mua ma túy “đá” của “Khoa” (chưa rõ lai lịch) giá 1.000.000 đồng/gói để về bán cho người nghiện kiếm lời. “Khoa” đặt xe ôm công nghệ G1 (chưa rõ lai lịch) đến Quận D để giao ma túy cho N trả tiền mặt giao cho G mang về cho “Khoa” rồi đem gói ma túy “đá” về nhà cất giữ. Khi có khách, N sẽ trực tiếp đi giao ma túy và thu tiền. Nguyên là bạn bè quen biết với Nguyễn Xuân A. Xuân A đã liên lạc mua ma túy “đá” của N được 08 lần, mỗi lần 1.500.000 đồng. Những lần mua ma túy Xuân A đều chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho N. Nguyên khai tổng số tiền thu lợi từ việc bán ma túy cho Xuân A là 4.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân.

Lúc 15 giờ 20 phút ngày 31/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P1 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Ngọc Ntại nhà số A đường T, Phường H, Quận D (nay là phường K), Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả thu giữ: Trên nắp thùng nhựa tại tầng trệt có 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể Nguyên khai là ma túy “đá” cất giữ để bán và 01 cân điện tử màu trắng do N sử dụng làm phương tiện phân chia ma túy để bán.

Tại Kết luận giám định số 13003/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: được niêm phong có chữ ký ghi tên Đỗ Ngọc N và hình dấu Tin Công an phường D, Quận D, bên trong có 01 gói nylon màu xanh chứa tinh thể Ba là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9693 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 2: được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đỗ Ngọc N và hình dấu Công an phường D, Quận D, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2449 gam, loại Methamphetamine.

Từ lời khai nhận của Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ, Cơ quan điều tra tiến hành mời Nguyễn Phạm D đến làm việc, thu giữ của D 60 ống thủy tinh, 05 bình thủy tinh, 08 bật lửa, 08 ống hút. D khai nhận kinh doanh cửa hàng tạp hóa tại số F đường L, Phường A, Quận A (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh. D mua các ống thủy tinh trên mạng Lazada giá 10.000 đồng/ống và cất giữ để bán lại cho khách giá từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng/ống. Duy xác định có bán các ống thủy tinh cho Xuân A và Đ giá 30.000 đồng/ống nhưng không nhớ rõ thời điểm và không biết Xuân A, Đ sử dụng ống thủy tinh vào việc gì. Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định, tại Công văn số 404/PC09-Đ4 ngày 09/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh từ chối giám định do việc xác định 60 ống thủy tinh và 05 bình thủy tinh thu giữ của Nguyễn Phạm D có phải là dụng cụ sử dụng ma túy hay không vượt quá khả năng của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng:

Tạm giữ của Đỗ Ngọc N:

  • - 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Đỗ Ngọc N, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
  • - 01 gói thuốc lá hiệu Saigon Silver do N sử dụng để cất giấu ma túy.
  • - 01 cân điện tử màu trắng do N sử dụng làm phương tiện phân chia ma túy để bán.
  • - 01 điện thoại Oppo A3S màu đen, số IMEI1: 869347034419197, số IMEI2: 869347034419189 là điện thoại Nguyên sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
  • - 01 xe gắn máy Honda Wave RS màu xanh-đen-bạc, biển số 54R3-3998, số máy: JC43E-0005008, số khung: RLH JC43019003518 qua xác minh do bà Lưu Ngọc N1 đứng tên đăng ký xe. Năm 2020, bà N1 đã bán lại xe cho ông Nhan Văn S (cha N) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 31/10/2024, ông S cho N mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép ma túy của N. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại xe Honda Wave RS màu xanh-đen-bạc, biển số 54R3-3998 cho ông S.

- Tạm giữ của Nguyễn Xuân A: 01 điện thoại Iphone 15Plus màu trắng 128GB, số Imei: 350110760004427, là điện thoại của Xuân A sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Tạm giữ của Nguyễn Thành Đ:

  • - 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím 256GB, Số imei: 351344350715253, là điện thoại cá nhân của Đ.

Tạm giữ của Nguyễn Phạm D:

  • - 60 ống thủy tinh; 05 bình thủy tinh; 08 bật lửa; 08 ống hút.

Đối với bà Đỗ Thanh H1 là chủ sở hữu nhà số H đường V, Phường D, Quận D (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra xác định bà H1 không biết việc Nguyễn Xuân A và Nguyễn Thành Đ sử dụng địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy nên không đồng phạm với Đ, Xuân A.

Đối với Nguyễn Phạm Dcó hành vi bán các ống thủy tinh cho Nguyễn Xuân Avà Nguyễn Thành Đnhưng không biết Xuân A, Đsử dụng vào việc gì. Mặt khác cũng không xác định được các ống thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy nên không đủ cơ sở xử lý Nguyễn Phạm D đồng phạm với Xuân A, Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc phạm vào tội “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản Cáo trạng số 130/CT-VKSKV1 ngày 22/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đỗ Ngọc N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đỗ Ngọc N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự cùng tình tiết tăng nặng tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52, tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để xử phạt bị cáo N từ 09 năm đến 10 năm tù, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, buộc bị cáo N nộp lại 4.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính; đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đphạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự cùng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để xử phạt bị cáo Xuân A, Đ từ 08 năm 09 năm tù. Về phần dân sự và xử lý vật chứng: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Đỗ Ngọc N bên trong là ma túy sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy; 01 cân điện tử màu trắng, 01 điện thoại Oppo A3S màu đen, số IMEI1: 869347034419197, số IMEI2: 869347034419189 thu giữ của bị cáo N, 01 điện thoại Iphone 15Plus màu trắng 128GB, số Imei: 350110760004427 thu giữ của bị cáo A, được sử dụng vào việc phạm tội, liên lạc mua ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím 256GB, số Imei: 351344350715253, thu giữ của bị cáo Đ không liên quan hành vi phạm tội, cần trả cho bị cáo; 60 ống thủy tinh; 05 bình thủy tinh; 08 bật lửa; 08 ống hút không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Luật sư ông Nguyễn Văn T2 bào chữa cho bị cáo Xuân A không tranh luận về tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Luật sư trình bày bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Viện kiểm sát có đề nghị xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Ngoài ra, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu giáo dục của cha mẹ, bị cáo đã phục vụ quân ngũ, được cử đi học quân y, do bị cáo mới trình bày nên Luật sư cũng chưa thu thập được, tuy nhiên vẫn đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo đã thành khẩn khai báo giúp cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét; bị cáo phạm tội không nhằm lợi nhuận, thành khẩn khai báo và áp dụng thêm cho bị cáo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng cho bị cáo Điều 54 Bộ luật hình sự với mức hình phạt dưới khung hình phạt.

Các bị cáo Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ không tranh luận, bào chữa.

Các bị cáo Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Ngọc N,Nguyễn Xuân A,Nguyễn Thành Đphù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản ghi nhận sự việc, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo Đỗ Ngọc Nđã có hành vi nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ; các bị cáo Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ sau khi mua ma túy của bị cáo Nđã cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Đỗ Ngọc N phạm “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đphạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 và Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Nhà nước ta cũng như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo Đỗ Ngọc N đã thực hiện hành vi mua bán ma túy đối với bị cáo Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đđể thỏa mãn cơn nghiện mà tổ chức sử dụng ma túy cùng với nhau. Tính nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo thực hiện còn thể hiện ở việc bị cáo N thực hiện hành vi mua bán ma túy nhiều lần, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; các bị cáo A, Đ thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy nhiều lần, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo N đã bị xét xử, chưa được xóa án lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất tội phạm và khả năng kinh tế của bị cáo N, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo, không phạt bổ sung đối với bị cáo A và Đ.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Trong thời gian phạm tội, bị cáo thu lợi 4.000.000 đồng, cần buộc bị cáo nộp lại, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Đỗ Ngọc Nbên trong là ma túy sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy;
  • - 01 cân điện tử màu trắng, 01 điện thoại Oppo A3S màu đen, số IMEI1: 869347034419197, số IMEI2: 869347034419189 thu giữ của bị cáo N, 01 điện thoại Iphone 15Plus màu trắng 128GB, số Imei: 350110760004427 thu giữ của bị cáo A, được sử dụng vào việc phạm tội, liên lạc mua ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím 256GB, số Imei: 351344350715253, thu giữ của bị cáo Đ không liên quan hành vi phạm tội, cần trả cho bị cáo Đ.
  • - 60 ống thủy tinh; 05 bình thủy tinh; 08 bật lửa; 08 ống hút, 01 gói thuốc lá hiệu Saigon Silver không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

  1. Bị cáo Đỗ Ngọc N 09 (Chín) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/10/2024.

Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Đỗ Ngọc N 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

  1. Bị cáo Nguyễn Xuân A 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2024.
  2. Bị cáo Nguyễn Thành Đ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2024.

Tiếp tục tạm giam Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • + Buộc bị cáo Đỗ Ngọc N nộp 4.000.000 (Bốn triệu) đồng tiền thu lợi bất chính, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Đỗ Ngọc N và hình dấu Công an phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, 60 ống thủy tinh; 05 bình thủy tinh; 08 bật lửa; 08 ống hút, 01 gói thuốc lá hiệu Saigon Silver.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 cân điện tử màu trắng, 01 điện thoại Oppo A3S màu đen, số IMEI1: 869347034419197, số IMEI2: 869347034419189; 01 điện thoại Iphone 15Plus màu trắng 128GB, số Imei: 350110760004427.
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: 01 điện thoại Iphone 14Promax màu tím 256GB, số imei: 351344350715253.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 43/2026 ngày 03/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, mỗi bị cáo Đỗ Ngọc N, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Thành Đ chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:
- VKSND, Phòng THADS KV1;
- Cơ quan CSĐT CA TP.HCM;
- VKSND Tp.HCM;
- Sở Tư pháp Tp.HCM;
- PC27;
- Bị cáo; Người có QLNVLQ;
- Lưu HS.
TAND KHU VỰC 1
QR Code TU1251225.TL.ODBA
8124
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Tôn Trung Tuấn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 237/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger