Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 26/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Tuế và bà Ninh Thị Tám.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện và ông Lương Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Tuấn A. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Ngày, tháng, năm sinh: 09/10/1994. Nơi sinh: Xã P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm L, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học văn hoá: Lớp 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Phó B và bà Vũ Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Quỳnh A1; Con có 01 con; Tiền sự: Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPHC, ngày 29/5/2025 của Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (cũ) xử phạt Bùi Tuấn A số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 04/6/2025; Tiền án: Không. Bị cáo được tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

* Người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Vũ Đức S, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  2. Đào Văn T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  3. Đặng Văn K, 1988. Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  4. Nịnh Văn M, sinh 1989. Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

5. Phạm Hữu Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

6. Hoàng Thị C, sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

Vũ Văn L, sinh năm 1993: Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

* Người chứng kiến:

Trạc Thông M1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 05/8/2025, tổ công tác của Công an xã P nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của ông Phạm Hữu Đ có các đối tượng đang tụ tập có biểu hiện liên quan đến việc đánh bạc nên đã tiến hành kiểm tra, khi kiểm tra đã phát hiện tại phòng bếp nhà ở của Đ có 05 đối tượng gồm: Bùi Tuấn A, Đặng Văn K, Nịnh Văn M, Vũ Đức S và Đào Văn T1 đang có hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, đã qua sử dụng; 02 chiếc chiếu nhựa, kích thước là (2x1,8)m và (1,9x1,6)m, đã qua sử dụng; Tiền ngân hàng N 2.090.000 đồng tại vị trí các đối tượng ngồi đánh bạc;

Tạm giữ trên người Đặng Văn K số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52, vỏ ngoài màu đen, đã qua sử dụng; Đào Văn T1 số tiền 2.600.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO GALAXY A32, vỏ ngoài màu xanh, đã qua sử dụng; Vũ Đức S số tiền 1.770.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17, vỏ ngoài màu xanh, đã qua sử dụng; Bùi Tuấn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, vỏ ngoài màu tím, đã qua sử dụng; Nịnh Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A59 5G, vỏ ngoài màu xám, đã qua sử dụng và Phạm Hữu Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57A vỏ màu xanh, đã qua sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng và báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 05/8/2025, Phạm Hữu Đ mời Nịnh Văn M, Đặng Văn K, Đào Văn T1, Bùi Tuấn A và Vũ Đức S đến nhà mình ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày sau khi ăn xong, Phạm Hữu Đ đi dọn dẹp nhà còn Bùi Tuấn A, Đặng Văn K, Nịnh Văn M, Đào Văn T1 và Vũ Đức S vẫn ngồi trên chiếu tại phòng bếp. Thấy có một bộ tú lơ khơ 52 quân bài để tại phòng bếp nên cả 05 người đã rủ nhau cùng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”.

Hình thức đánh bạc như sau: Các đối tượng sử dụng các quân bài từ A đến K để đánh bạc. Mỗi ván người chơi được chia 03 quân bài. Lúc đầu, người chơi đặt cược số tiền theo quy định là 20.000 đồng (tiền sàn) theo quy ước. Sau khi nhận được 03 lá bài thì người chơi có thể đặt cược thêm, mức đặt cược thêm tối thiểu là 20.000 đồng, tối đa là 100.000 đồng; người chơi được đặt cược thêm tối đa 02 lần/ván. Người chia bài là người sẽ chơi đầu tiên, sau đó nếu ai thắng ván bài trước thì ván sau sẽ là người chơi đầu tiên và đánh theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Khi tới lượt chơi, người chơi sẽ có các lựa chọn là: “Tố”, “Theo”, “Úp bài”. “Tố” là đặt cược thêm tiền. “Theo” là đợi so sánh bài với người còn lại. “Úp bài” là nhận thua. Nếu có hơn một người vẫn còn chơi thì sẽ tiến hành so bài những người này để tìm người thắng: Việc so bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé gồm: Sáp lớn nhất: Ba quân bài có số giống nhau. Nếu người chơi cùng được sáp sẽ so sánh giá trị quân bài theo thứ tự 2 < 3 < ... < K < A (Bộ S3 sẽ là bộ to nhất). Liêng: Là bộ bài có 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, nếu cùng là liêng thì cũng so sánh giá trị quân bài lớn nhất như sáp. Nếu bộ bài không phải là S1 hoặc L1, nhưng tất cả 3 quân đều là đầu người (J, Q, K) thì gọi là Ảnh. Không phải S1, L1, Ảnh người chơi sẽ cộng giá trị các quân trong bài để tính điểm, người chơi có cùng điểm thì xét về chất rô – cơ – tép - bích xem ai là người thắng và được tiền.

Khi đánh bạc các đối tượng sử dụng số tiền như sau:

  • - Bùi Tuấn A mang theo 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc.
  • - Vũ Đức S mang theo 1.970.000 đồng, khi đánh bạc Sáng sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, còn lại 1.770.000 đồng Sáng cất trong người không dùng để đánh bạc.
  • - Nịnh Văn M mang theo 350.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc.
  • - Đặng Văn K mang theo 890.000 đồng, khi đánh bạc K sử dụng số tiền 390.000 đồng để đánh bạc còn lại 500.000 đồng K cất trên người không sử dụng để đánh bạc.
  • - Đào Văn T1 mang theo 3.150.000 đồng, khi đánh bạc T1 sử dụng số tiền 550.000 đồng để đánh bạc, còn lại 2.600.000 đồng Trấn để trên người không sử dụng để đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 30 phút thì bị tổ công tác của Công an xã P kiểm tra, phát hiện, lập biên bản như đã nêu trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can Bùi Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 2x1,8m; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 1,9x1,6m và số tiền 6.960.000 đồng (Sáu triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng), hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tạm gửi của Công an tỉnh T chờ xử lý. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO GALAXY A32, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A59 5G và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57A, sau khi điều tra, xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV4 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Tuấn A về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung: Điều 321. Tội Đánh bạc.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này...mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Anh T2 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Anh T2 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Phạt bổ sung (Phạt tiền): Từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.090.000 đồng mà Bùi Tuấn A, Vũ Văn S2, Nịnh Văn M, Đặng Văn K và Đào Văn T1 dùng để đánh bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 2x1,8m; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 1,9x1,6m.
  • - Trả lại cho: Vũ Đức S 1.770.000 đồng; Đặng Văn K 500.000 đồng; Đào Văn T1 2.600.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đó đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Tuấn A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Bùi Tuấn A đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPHC, ngày 29/5/2025 của Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (cũ) xử phạt Bùi Tuấn A số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 04/6/2025. Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 35 phút ngày 05/8/2025, tại phòng bếp nhà ở của anh Phạm Hữu Đ, thuộc xóm N, xã P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Bùi Tuấn A đang thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh L1 cùng Vũ Văn S2, Nịnh Văn M, Đặng Văn K và Đào Văn T1 với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.090.000 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) thu được trên chiếu bạc, thì bị tổ công tác Công an xã P, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra, phát hiện, lập biên bản và thu giữ toàn bộ vật chứng. Vì vậy việc truy tố xét xử bị cáo Bùi Tuấn A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh - trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận quần chúng. Do đó, cần thiết phải có hình phạt tương xứng mới đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Bùi Tuấn A đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPHC, ngày 29/5/2025 của Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (cũ) xử phạt Bùi Tuấn A số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 04/6/2025 – Quyết định này là yếu tố cấu thành tội đánh bạc, cho nên không xác định bị cáo là có nhân thân xấu.

Bị cáo Bùi Tuấn A được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đủ khả năng tự cải tạo tại địa phương mà không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở cho bị cáo hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền nên cần phạt bổ sung (phạt tiền) để nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về vật chứng:

  • - Số tiền 2.090.000 đồng mà Bùi Tuấn A, Vũ Văn S2, Nịnh Văn M, Đặng Văn K và Đào Văn T1 dùng để đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 52 quân bài tú lơ khơ, tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 2x1,8m; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 1,9x1,6m thu giữ của ông Phạm Hữu Đ, ông Đ không yêu cầu gì nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Thu giữ của Vũ Đức S 1.770.000 đồng; Đặng Văn K 500.000 đồng; Đào Văn T1 còn lại 2.600.000 đồng xác định không dùng để đánh bạc nên được trả lại.

[8] Trong vụ án này còn có Nịnh Văn M, Đặng Văn K, Đào Văn T1, Vũ Đức S cùng tham gia đánh bạc với Bùi Tuấn A và Phạm Hữu Đ cho các đối tượng đánh bạc trái phép tại nhà ở của mình. Do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự nên Công an xã P đã xử phạt hành chính theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính, phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn A 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

    Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Tuấn A 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 2x1,8m; 01 chiếu nhựa màu vàng, có hoa văn KT 1,9x1,6m.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 2.090.000 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).
    • - Trả lại cho Đặng Văn K 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); Đào Văn T1 2.600.000₫ (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng); Vũ Đức S 1.770.000đ (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng)
    • (Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an xã P, tỉnh Thái Nguyên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Thái Nguyên).

  4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Buộc bị cáo Bùi Tuấn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND khu vực 4 - Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND xã Phú Lương;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN về tội đánh bạc

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Tuấn Anh đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPHC, ngày 29/5/2025 của Công an xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (cũ) xử phạt Bùi Tuấn Anh số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 04/6/2025. Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 35 phút ngày 05/8/2025, tại phòng bếp nhà ở của anh Phạm Hữu Đạt, thuộc xóm Na Mụ, xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Bùi Tuấn Anh đang thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh Liêng cùng Vũ Văn Sáng, Nịnh Văn Mát, Đặng Văn Khánh và Đào Văn Trấn với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.090.000 đồng (Hai triệu không trăm chin mươi nghìn đồng) thu được trên chiếu bạc, thì bị tổ công tác Công an xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra, phát hiện, lập biên bản và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger