TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 227/2025/DS-ST
Ngày 31-12-2025
V/v tranh chấp đòi tài sản
NHÂN DANH00000
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và ông Nguyễn Duy Thụy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 374/2025/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Dương Thị Lan A, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số C, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. SĐT 0393.326.327 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Công ty TNHH D (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số G, tầng G, tòa nhà C, số A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa chỉ chi nhánh: Số C T, phường L, tỉnh An Giang.
- Địa chỉ chi nhánh: 18 Ỷ, khóm B, phường B, An Giang. Số điện thoại: 0911858168.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung vụ án thể hiện nguyên đơn bà Dương Thị Lan A trình bày:
Ngày 13/05/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã thụ lý dân sự số 279/2024 TLST-DS về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh. Theo đơn khởi kiện của ông Phan Văn B, sinh năm 1970, địa chỉ: số C, khóm B, phường B, thành phố L, An Giang. Ông Phan Văn B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH D và Công ty TNHH D chi nhánh A1 có trách nhiệm trả lại Giấy Chứng Nhận đăng ký xe ô tô BKS 67A-056.75 cho ông Phan Văn B làm thủ tục chuyển nhận quyền sở hữu theo đúng quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Văn B mất vào ngày 12/08/2024. (Theo trích lục Khai tử số 119/TL/CT BS ngày 20/08/2024, UBND Phường B). Ngày 26/08/2024, bà là vợ ông Phan Văn B, đã cung cấp cho Tòa án, tờ cam kết về việc không bỏ sót những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Văn B.
Cùng ngày 26/08/2024, sau khi hai bên thống nhất thỏa thuận giải quyết, ông Dương Xuân M – Tổng Giám đốc, Công ty TNHH D chi nhánh A1, hứa sẽ thu hồi xe ô tô 67A-056.75 với giá là 40.000.000 đồng, phương thức thanh toán trả 02 lần; trả lần 01: vào tháng 09 năm 2024 là 20.000.000 và trả lần 02: vào tháng 10 năm 2024 là 20.000.000 đồng. Nhưng cho đến nay, ông Dương Xuân M chưa thanh toán tiền cho bà.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty TNHH D phải trả cho bà số tiền 40.000.000 đồng. Bà đồng ý trả lại chiếc xe ô tô 67A-056.75 cho Công ty TNHH D và Công ty TNHH D chi nhánh A1.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn bà Lan A đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công ty TNHH D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ 166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Lan A. Buộc bị đơn Công ty TNHH D phải trả cho bà Lan A số tiền 40.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lan A về việc trả lại xe ô tô biển số 67A-056.75 cho Công ty TNHH D.
Đề nghị đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về đòi tài sản, xuất phát từ nHợp đồng hợp tác kinh doanh của các đương sự được ký kết trước đây tại thành phố L, sau đó làm biên bản thỏa thuận tại Công ty TNHH D - Chi nhánh A1 có trụ sở tại số C T, phường L, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Công ty TNHH D đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không lý do không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận định:
Tại Biên bản thỏa thuận ngày 26/8/2024 được xác lập giữa Công ty TNHH D - Chi nhánh A1 (do ông Dương Xuân M – Giám đốc làm đại diện) với bà Dương Thị Lan A, có đầy đủ chữ ký và viết tên của hai bên. Theo đó, hai bên thống nhất thỏa thuận làm việc giải quyết vấn đề về chiếc xe 67A - 056.75, cụ thể:
“Về phía Công ty TNHH D - Chi nhánh A1 sẽ thu hồi xe 67A - 056.75 với giá 40.000.000 đồng;
Về phương thức thanh toán: thanh toán 2 đợt:
+ Đợt 1: Trong tháng 9 chi trả 20.000.000 đồng;
+ Đợt 2: Trong tháng 10 chi trả 20.000.000 đồng”.
Trong thời gian chi trả nhả đầu tư giữ xe cho đến khi thanh toán hoàn thành, Sau khi phía Công ty TNHH D - Chi nhánh A1 chi trả đủ 2 đợt tức là 40.000.000 đồng cho bà Dương Thị Lan A, Phan Văn B thì bà Lan A giao xe 67A - 056.75 cho Công ty TNHH D - Chi nhánh A1”.
Sự thỏa thuận này là các bên đã thiết lập một giao dịch mới, theo đó: Công ty TNHH D có nghĩa vụ trả cho bà Lan A số tiền 40.000.000 đồng, còn bà Lan A có nghĩa vụ giao chiếc xe biển số 67A-056.75 cho Công ty TNHH D. Xét thấy, giao dịch của các bên được xác lập trong điều kiện các bên có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hành vi dân sự, các bên thực hiện giao dịch trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không bị ép buộc, không bị lừa dối, có nội dung và hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.
Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án theo đó có nội dung khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo là Biên bản thỏa thuận ngày 26/8/2024 cho bị đơn, nhưng bị đơn không ý kiến, không phản bác, phản đối lại đối với yêu cầu và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Mọi bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Hội đồng xét xử căn cứ biên bản thỏa thuận mà bà Lan A cung cấp làm cơ sở để xem xét, giải quyết vụ án.
Đến thời điểm hiện tại Công ty TNHH D vẫn không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, bà Lan A khởi kiện yêu cầu đòi Công ty TNHH D trả 40.000.000 đồng và bà tự nguyện giao xe chiếc xe biển số 67A-056.75 là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3] Về án phí dân sự:
Do vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận nên Công ty TNHH D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định trên số tiền bị buộc trả (40.000.000 đồng) là 2.000.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Lan A đối với Công ty TNHH D: Buộc Công ty TNHH D có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị Lan A số tiền 40.000.000 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Lan A giao cho Công ty TNHH D chiếc xe ô tô biển số 67A - 056.75.
- Về án phí:
- - Công ty TNHH D phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Dương Thị Lan A được nhận lại 1.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002418 ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Huỳnh Văn Nam Nguyễn Duy Thụy | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 227/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 227/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
