Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2025/HS-ST

Ngày: 25/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bạn
  2. Bà Võ Thị Bời

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 211/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

PHẠM NGỌC T

(giới tính: Nam) – sinh Năm: 1994 tại tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú hiện tại: không ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Phạm Sỹ Q – sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1965; có vợ là Võ Thị Thiên T1 – sinh năm: 1993 và 01 con: sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Quyết định số 31/2025/QĐ-TA ngày 05/09/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Khánh Hòa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc T, thời hạn 18 tháng. Quyết định số 140/QĐ-DS ngày 17/09/2025 về việc tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo T bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2025, hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực N, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh K.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Trần Quế T2 - địa chỉ: 8 P, phường T, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

Người làm chứng:

  • Ông Nguyễn Văn T3 - địa chỉ: H P, phường N, Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 03/8/2025, Tổ công tác Công an phường N, tỉnh Khánh Hòa đang tuần tra kiểm soát địa bàn, phát hiện Phạm Ngọc T đang đứng trước khu nhà trọ ở lô I khu tái định cư A thuộc thôn T, phường N, tỉnh Khánh Hòa, có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Lúc này, Phạm Ngọc T khai nhận đã sử dụng ma túy đá, sau đó T đi vào phòng trọ T thuê, lấy ra giao nộp Tổ công tác: 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu A), 02 viên nén hình tròn có màu đỏ (ký hiệu B), T khai là ma túy “đá” và ma túy tổng hợp. Tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp nơi T thuê trọ, thu giữ, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc. Tại trụ sở, Phạm Ngọc T khai nhận: khoảng 23 giờ 45 phút ngày 01/08/2025, T đi một mình đến khu vực lầu 7 ở đường B, phường B, tỉnh Khánh Hòa để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đầu hẻm giáp đường B, T gặp một đứa bé trai khoảng 8 tuổi, không rõ lai lịch, hỏi T mua gì, T nói mua 1 bịch ma túy đá, 02 viên ma túy tổng hợp, đứa bé nói 370.000 đồng, T đưa tiền và nhận ma túy rồi đi về phòng thuê. Đến khoảng 7 giờ ngày 02/08/2025, T lấy một phần ma túy sử dụng. Kiểm tra test nhanh mẫu nước tiểu bằng que que thử ma túy tổng hợp, T dương tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số 393/2025/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1841g, loại Methamphetamine.
  • Các viên nén màu đỏ trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1813g, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKSKV1 ngày 26/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa phát biểu quan điểm:

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 03/8/2025, tại nhà trọ ở lô I khu tái định cư A thuộc thôn T, phường N, tỉnh Khánh Hòa, Tổ công tác Công an phường N, tỉnh Khánh Hòa tuần tra, phát hiện thu giữ quả tang Phạm Ngọc T đang tàng trữ trái phép 0,3654g ma túy là Methamphetamine. Hành vi tàng trữ 0,3654g ma túy Methamphetamine của Phạm Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng của Phạm Ngọc T gây tác hại trước hết cho chính bị cáo, sau đó là gia đình bị cáo và xã hội. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc của bản thân người nghiện và gia đình, gây mất trật tự an toàn ở địa phương, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 nồi thủy tinh, 01 lọ thủy tinh, 02 ống hút bằng nhựa nối nhau thành 01 ống dài (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc T.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/9/2025.

    Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 nồi thủy tinh, 01 lọ thủy tinh, 02 ống hút bằng nhựa nối nhau thành 01 ống dài (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

    Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Vũ L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 223/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger