Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2025/DSPT

Ngày: 26-12-2025

V/v: Kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Ông Nguyễn Trung Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 385/2025/TLPT-DS ngày 20/11/2025 về việc “Kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 57/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Đỗ Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Bà Đỗ Thị H và chị Nguyễn Thị T có quan hệ là thím cháu dâu trong họ. Ngày 30/5/2013 âm lịch (tức ngày 07/7/2013 dương lịch), bà H có đến nhà chị T để hỏi vay tiền hoặc vàng. Chị T đồng ý cho bà H vay 01 dây chuyền vàng 9999 (05 chỉ) và 06 nhẫn vàng 9999 (mỗi nhẫn vàng là 02 chỉ), tổng cộng là 17 chỉ vàng 9999, không có lãi suất, thời hạn vay trong 06 tháng. Hai bên thống nhất làm văn bản, bà H là người ghi Giấy vay vàng và ký xác nhận. Hết thời hạn 06 tháng, chị T có đòi nhưng bà H chưa có để trả.

Năm 2018, chị T tiếp tục đòi lại số vàng đã cho bà H vay nhưng bà H tiếp tục hứa hẹn, có ý chây ỳ và cho đến nay không trả. Do đó, chị T làm đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Đỗ Thị H phải trả lại cho chị 1 chỉ vàng 9999 và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn là bà Đỗ Thị H trình bày: Bà xác nhận có vay của chị Nguyễn Thị T, 17 chỉ vàng 9999 như chị T trình bày là đúng. Bà xác nhận Giấy vay vàng ngày 30/5/2013 (Âm lịch) mà chị T xuất trình là do tự tay bà viết và ký nhận. Tuy nhiên, bà đã trả chị T số vàng đã vay. Vào khoảng 30/8/2013 âm lịch, chị T có đến nhà bà để đòi lại số vàng trên thì bà đã trả cho chị T số tiền tương đương với 17 chỉ vàng 9999. Nhưng cụ thể số tiền là bao nhiêu thì bà không còn nhớ vì thời gian đã lâu. Do vậy bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc yêu cầu bà phải trả cho chị T 17 chỉ vàng 9999.

Ngoài ra, bà H còn trình bày, chồng của bà là ông Đoàn Văn T1 không biết, không liên quan đến việc vay nợ này, chỉ có một mình bà đứng ra vay vàng và trả tiền cho chị T.

Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ các khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227 228 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

- Buộc bà Đỗ Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho chị Nguyễn Thị T 17 chỉ vàng 9999. Giá trị của 17 chỉ vàng 9999 ngày 30/09/2025 là: 17 x 13.340.000 đồng/1 chỉ = 226.780.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/10/2025, bị đơn là bà Đỗ Thị H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn là bà H không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ mới và khẳng định trong vòng 3 tháng kể từ thời điểm vay, bà H đã thanh toán 17 chỉ vàng 9999 trị giá bằng tiền cho chị T nhưng không nhớ được cụ thể số tiền đã thanh toán, số lần thanh toán, thời điểm thanh toán tiền cho chị T. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm; bà H phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là bà Đỗ Thị H nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà H, Hội đồng xét xử thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận vào ngày 30/5/2013 âm lịch (tức ngày 07/7/2013 dương lịch), chị Nguyễn Thị T có cho bà Đỗ Thị H vay 17 chỉ vàng 9999 gồm: 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 9999 và 06 nhẫn (mỗi nhẫn 02 chỉ) vàng 9999; thời hạn vay 6 tháng. Bà H là người viết giấy vay vàng của chị T và ký nhận. Như vậy, có đủ căn cứ xác định vào ngày 30/5/2013 âm lịch (tức ngày 07/7/2013 dương lịch), bà Đỗ Thị H vay 17 chỉ vàng 9999 của chị Nguyễn Thị T. Các bên chỉ tranh chấp việc thanh toán số vàng.

Phía nguyên đơn là chị T cho rằng, sau khi vay vàng, bà H chưa trả cho chị H bất cứ một khoản tiền hay vàng nào. Tuy nhiên, phía bị đơn là bà H lại cho rằng, khoảng ngày 30/8/2013 âm lịch, khi chị T đến nhà bà H để đòi số vàng trên thì bà H đã trả chị T số tiền VND tương đương với 17 chỉ vàng 9999. Tuy nhiên, bà H lại không đưa ra được bất cứ chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh việc bà đã trả khoản tiền trên cho chị T. Do vậy, lời trình bày của bà H về việc đã thanh toán trả chị T số tiền VND tương đương 17 chỉ vàng 9999 là không có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải trả cho chị T 17 chỉ vàng 9999 là có căn cứ.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà H không đưa được ra căn cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
  2. Về án phí: Bà Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0001394 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 9 - BN;
  • - Phòng THADS khu vực 9 - BN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vương Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

Nguyễn Tuyết Mai

Vương Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 223/2025/DSPT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 223/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thạo - Đỗ Thị Hạnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger