Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2025/DS-PT

Ngày: 30/12/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn và bà Lý Thị Thuý

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên; Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 145/2025/DS-PT ngày 28/10/2025 về việc kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2025/QĐ-PT ngày 01/12/2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Duy L, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn Vũ Duy L: Luật sư Nhữ Thị M; Văn phòng L3, đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đặng H, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngọc K, Luật sư trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1962, ủy quyền cho ông Vũ Duy L; địa chỉ: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; có mặt
  2. Bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1956; uỷ quyền cho chị Đỗ Thị Thanh H2, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ C, phường L, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
  3. Anh Vũ Duy H3, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên; xin xét xử vắng mặt.
  4. Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Kim Q - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã V; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  5. Công ty L4; có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1942; có mặt.
  2. Bà Vũ Thị M1, sinh năm 1952; có mặt.
  3. Ông Vũ Anh Đ, sinh năm 1982; có mặt.
  4. Ông Vũ Duy H4, sinh năm 1966; có mặt.
  5. Ông Hoàng Văn T1; sinh năm 1960; có mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị H5; sinh năm 1953; có mặt.
  7. Địa chỉ: Xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên.

  8. Ông Đỗ Tiến D, sinh năm 1960; địa chỉ: Xóm H, xã N, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Vũ Duy L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T trình bày:

Gia đình ông L hiện đang sử dụng thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 13.077,9m², loại đất rừng sản xuất có nguồn gốc do vợ chồng ông khai hoang, phục hóa từ năm 2003, sử dụng trồng Keo từ đó đến nay. Ngày 03/5/2007, gia đình ông đã ký hợp đồng số 05/HĐGK-CTVD về việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nguyên liệu với Công ty L4, nay là Công ty L4 với thời hạn chu kỳ 07 năm. Năm 2013, gia đình ông Nguyễn Đặng H đã kê khai và được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 mang tên ông Nguyễn Đặng H đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên mà gia đình ông đang sử dụng.

Ông Vũ Duy L yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 13.077,9 m²; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 412811, UBND huyện Đ cấp ngày 27/11/2013 cho ông Nguyễn Đặng H đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn ông Nguyễn Đặng H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 360 là do ông H1 khai phá, nhận giao khoán trồng rừng và được cấp sổ Lâm bạ cùng với ông Nguyễn Thanh G từ năm 1988. Gia đình ông H1 đã trồng Bạch Đàn tái sinh theo dự án PAM và được Nhà nước cấp gạo ăn. Năm 2013, ông kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 mang tên Nguyễn Đăng H6 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 13.077,9 m2.

Về quá trình sử dụng đất: Gia đình ông H6 đã trồng Bạch đàn từ năm 1990 theo dự án PAM, đến khoảng năm 2003 cho gia đình ông Vũ Duy L mượn trồng Keo. Khi cho mượn chỉ nói bằng miệng, không có giấy tờ gì. Thời gian cho mượn không nói rõ, chỉ nói khi nào cần thì đòi. Năm 2022, ông L đi Trung Quốc về, ông đã vào đòi lại thửa đất này nhưng ông L không trả. Ông chưa kịp khởi kiện đến Tòa án thì ông L khởi kiện trước. Ông H6 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Duy H3 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên do bố mẹ anh khai phá từ năm 2003 và đã sử dụng trồng Keo. Tháng 5 năm 2007, do bố anh đi làm xa không có nhà, nên anh đã thay mặt bố mẹ anh ký hợp đồng số 05/HĐGK-CTVD về việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nguyên liệu với Công ty L4, nay là Công ty L4. Gia đình anh vẫn trồng rừng và thu hoạch liên tục từ đó đến nay. Ông Nguyễn Đặng H đã kê khai và được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên mà gia đình anh đang sử dụng là không đúng. Việc khởi kiện tranh chấp thửa đất 360 với ông H là do bố mẹ anh chủ động, không liên quan gì đến anh.

Chủ tịch UBND xã V và người đại diện theo ủy quyền đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng trình bày:

Ông Nguyễn Thanh G trình bày:

Tháng 9 năm 1988, gia đình ông cùng với gia đình ông Nguyễn Đặng H, ông Vũ Văn T2 được UBND xã V cấp sổ Lâm bạ giao đất tại khu đất giáp Hố Sấu Đ để trồng Mỡ, Bạch Đàn theo dự án PAM cho Lâm trường Đ để lấy gạo. Sổ Lâm bạ cấp chung cho 03 gia đình do ông đứng tên, việc giao đất được tiến hành trên thực địa. Thửa đất số 360 đang tranh chấp giữa ông H và ông L hiện nay thuộc khu đất ông H được giao sổ Lâm bạ năm 1988. Ông là Chủ tịch UBND xã V từ năm 1984 đến năm 1989, nên ông khẳng định toàn bộ diện tích đất rừng tự nhiên ở xóm T hiện nay đã được giao đất giao rừng cho các hộ từ trước năm 1990, do đó năm 2003 không còn diện tích đất rừng nào để ông L khai phá.

Bà Vũ Thị M1 trình bày:

Tháng 9 năm 1988, gia đình bà cùng với gia đình ông Nguyễn Đặng H, ông Nguyễn Thanh G được UBND xã V giao đất tại khu giáp Hố Sấu Đ để trồng Mỡ, Bạch Đàn theo dự án PAM cho Lâm trường Đ để lấy gạo, thời gian khoảng 10 năm. Thửa đất số 360 đang tranh chấp giữa ông H và ông L hiện nay thuộc khu đất ông H được giao sổ Lâm bạ năm 1988, ông H đã canh tác khoảng hơn 10 năm, sau này ông H cho ông L mượn hay bán thì bà không biết. Bà sinh sống tại xóm T, xã V từ năm 1974 đến nay nên bà biết được từ năm 2003 trở lại đây trên địa bàn xóm T không còn diện tích đất rừng nào để khai phá.

Ông Vũ Duy H4 và ông Vũ Anh Đ trình bày:

Thửa đất số 360 đang tranh chấp giữa ông H và ông L hiện nay do vợ chồng ông L khai hoang, phục hóa từ năm 2003 và đã sử dụng trồng Keo từ đó đến nay. Gia đình ông Nguyễn Đặng H chưa bao giờ khai phá, canh tác hay trồng rừng trên thửa đất này.

Ông Đỗ Tiến D trình bày:

Năm 1990, phân trường D2 có đầu tư cho gia đình ông Nguyễn Đặng H trồng rừng tại khu đất giáp Hố Sấu Đ do ông H làm chủ đất để trồng Bạch Đàn theo dự án PAM cho Lâm trường Đ, thời gian khoảng 10 năm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thái Nguyên đã quyết định:

[1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Duy L về việc:

  • Buộc ông Nguyễn Đặng H phải trả lại cho gia đình ông Vũ Duy L thửa đất số 360 tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên.
  • Yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông Vũ Duy L đối với thửa đất số 360 tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên.
  • Yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 412811, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00631 do ủy ban nhân dân huyện Đ (trước kia) cấp ngày 27/11/2013 cho ông Nguyễn Đặng H đối với thửa đất số 360 tờ bản đồ số 5 xã V, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn là ông Vũ Duy L phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc bằng máy và định giá tài sản số tiền 14.400.000 đồng. Ông Vũ Duy L đã chi phí xong.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 06/10/2025, nguyên đơn ông Vũ Duy L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Nội dung kháng cáo ông L cho rằng: Thửa đất 360 gia đình ông L khai phá, sử dụng trồng keo từ năm 2003 đến nay, thu hoạch nhiều lần. Năm 2007, ký hợp đồng giao khoán để trồng keo với Công ty ván dăm thuộc Tổng công ty L5. Gia đình ông H chưa bao giờ sử dụng đất. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Đặng H, công nhận thửa đất số 360 cho gia đình ông L.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông L giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày, tranh luận tại Toà án cấp sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Theo biên bản lấy ý kiến khu dân cư thì gia đình ông H chưa bao giờ sử dụng tại thửa đất số 360 đang tranh chấp với ông L. Gia đình ông L sử dụng đất trồng keo, thu hoạch nhiều đợt, không có ai tranh chấp hay phản đối. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H khi ông L đang sử dụng đất và có tài sản trên đất là không đúng.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Duy L, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Vũ Duy L đối với thửa đất số 360, công nhận quyền sử dụng đất thửa 360 cho gia đình ông L.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:

Thửa đất số 360 gia đình ông H sử dụng, được cấp sổ lâm bạ từ năm 1988, năm 2003 cho gia đình ông L mượn. Năm 2022, ông H đòi nhưng gia đình ông L không trả. Năm 2013, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 360 cho gia đình ông H là đúng. Ông L sử dụng đất công khai, liên tục nhưng chưa đủ 30 năm. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:

Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Duy L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H, công nhận thửa đất số 360 cho gia đình ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Bị đơn ông Vũ Duy L kháng cáo trong hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:

[2] Tại Biên bản họp lấy ý kiến về vụ việc tranh chấp đất đai giữa ông Vũ Duy L với ông Nguyễn Đặng H ngày 14/12/2024, gồm Bí thư chi bộ, Trưởng xóm, nguyên Trưởng xóm, Trưởng Ban công tác mặt trận xóm Đ, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên:

Ý kiến của Ông Nguyễn Ngọc C đã sinh sống tại xóm Đ được 50 năm, Bí thư chi bộ được 20 năm, xác định thửa đất tranh chấp trước đây là đất hoang không ai sử dụng. Năm 2003, ông L là người nhận canh tác với Lâm trường Đồng Hỷ theo Dự án 661. Năm 2012, xóm, xã thực hiện việc đo đạc để kê khai thì ông H và ông L tranh nhau diện tích đất đó, việc đo đạc dừng lại. Ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng đối tượng.

Ý kiến của ông Hoàng Văn T3, Lang Đức L1, Vũ Duy H4, Vũ Anh Đ, bà Hà Thị L2 đều xác định thửa đất số 360 tranh chấp giữa ông L với ông H là đất hoang không ai sử dụng. Gia đình ông L sử dụng từ năm 2003 đến nay, không thấy gia đình ông H sử dụng thửa đất này (bút lục 109 - 112).

[3] Tại Biên bản hoà giải về việc tranh chấp đất đai giữa ông H với ông L ngày 15/5/2023 do UBND xã V tiến hành, ý kiến của ông Lường Văn H7, Phó Chủ tịch UBND xã V xác định: Nguồn gốc đất trên là đất do công nhân Lâm trường khai phá trồng cây cho công ty. Năm 2003, ông L có vào phát dọn để trồng cây keo cho đến nay là 04 vụ keo. Ông L hỗ trợ ông H một phần kinh tế, ông H sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L (bút lục số 04, 05).

Về tài liệu liên quan đến thửa đất tranh chấp:

[4] Ông H cho rằng thửa đất số 360 đang tranh chấp với ông L được giao nhận đất để xây dựng vườn rừng theo Sổ lâm bạ ngày 24/9/1988. Xét thấy:

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Vũ Duy L xuất trình 06 Sổ lâm bạ gốc của 06 hộ gia đình, cùng xóm Đ, cấp ngày 22/9/1988, cùng thời điểm với S lâm bạ do ông H cung cấp. Nội dung Sổ lâm bạ do ông L cung cấp ghi đầy đủ số sổ, ngày, tháng, năm, số lô, vị trí, diện tích, số nhân khẩu của hộ được giao đất vườn rừng. Thành phần trong biên bản giao nhận đất xây dựng vườn rừng gồm: ông Nông Văn D1, ông Nguyễn Đặng H, ông Lường Văn T4. Ông L cho rằng chữ ký của ông Nông Văn D1, Lường Văn T4 trong Sổ lâm bạ do ông H xuất trình không phải chữ ký của ông D1, ông T4.

Sổ lâm bạ do ông H cung cấp thể hiện: Họ và tên chủ hộ là Nguyễn Thanh G, không có số sổ; phần quyết định của UBND xã V không đề ngày tháng, không có họ, tên người được giao, không có số lô, diện tích. Biên bản giao nhận đất xây dựng vườn rừng, thành phần gồm có ông Nông Văn D1, đại diện Ban lâm nghiệp xã; ông Nguyễn Đặng H, đại diện Ban quản trị HTX, ông Nguyễn Thanh G, chủ hộ; không có tên chủ hộ nhận rừng, không có vị trí, số lô. Tại trang Bản đăng ký sử dụng rừng và đất rừng, có chữ viết tay, nội dung: Ghi chú: Khu rừng 3 gia đình ông G – H – T2. Chữ viết trên Sổ lâm bạ do ông H cung cấp được viết bằng nhiều loại mực, nhiều kiểu chữ khác nhau. Về sơ đồ lô đất giao ở trang cuối của Sổ lâm bạ được vẽ bằng tay, bằng bút bi, khác kiểu chữ, thể hiện: Ông H được chia 02 phần đất, gồm 01 phần 3,5 ha và 01 phần nhỏ hơn không ghi diện tích. Ông H xác định tại khu đất đó ngoài phần đất thửa 360, diện tích 13.077,9 m2, ông H không còn diện tích đất nào khác. Như vậy, sơ đồ theo Sổ lâm bạ do ông H xuất trình không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện nay.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Giao thừa nhận Sổ Lâm B do ông H cung cấp cho Toà án là cuốn sổ được chép lại, trong đó chữ ký ông D1 là Trưởng Ban lâm nghiệp xã không phải là chữ ký của ông D1 như trong các Sổ lâm bạ khác do ông L xuất trình.

Về quá trình sử dụng đất:

[5] Ông Nguyễn Đặng H cho rằng được giao diện tích đất theo Sổ lâm bạ từ năm 1988, sử dụng để trồng bạch đàn khoảng 10 năm đến năm 2003 cho gia đình ông L mượn, nhưng ông H không có tài liệu nào chứng minh việc cho ông L mượn để canh tác. Lời khai của ông Nguyễn Ngọc C, Hoàng Văn T3, Lang Đức L1, Vũ Duy H4, Vũ Anh Đ, bà Hà Thị L2 là những người sinh sống lâu năm tại biên bản lấy ý kiến khu dân cư đều xác định gia đình ông H chưa bao giờ sử dụng phần đất tranh chấp với ông L; gia đình ông L thực tế sử dụng đất từ năm 2003 đến nay, trồng cây keo khai thác nhiều lần.

[6] Xét yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Đặng H đối với thửa đất số 360 và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Vũ Duy L, thấy:

Lời khai của ông L, ông H và ông Nguyễn Ngọc C thì năm 2012 khi đo đạc kê khai, thửa đất số 360 đã có tranh chấp giữa ông L với ông H. Thời điểm năm 2013 khi UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đặng H thì gia đình ông L đang quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất để trồng cây Keo. Tại Đơn xin nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nguyên liệu của Anh Vũ Duy H3, con ông L ngày 12/01/2007 có xác nhận đồng ý của UBND xã V. Tuy nhiên, Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 360 cho ông H do T5 xóm là ông Lường Xuân T6 xác nhận đất sử dụng đúng mục đích, không có tranh chấp là không đúng thực tế. UBND huyện Đ căn cứ vào kê khai của ông Nguyễn Đặng H và S lâm bạ đứng tên người khác là ông Nguyễn Thanh G, không có vị trí, số lô, diện tích để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đặng H là không có căn cứ.

[7] Tại Văn bản số 97/CTLNTN-LN ngày 10/4/2025 của Công ty L4 cung cấp, có nội dung: “Căn cứ theo Kết luận thanh tra số 1655/STNMT-TTr ngày 17/7/2009 về chấp hành pháp luật đất đai đối với Công ty L4 (nay là Công ty L4) kết luận thửa 360, tờ bản đồ số 5 xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên không thuộc diện tích đất Công ty L4 quản lý”. Từ ngày 07/5/2014, Công ty không quản lý diện tích rừng trên.

Điểm c khoản 2 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định: c) Trường hợp lấn đất, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không thuộc quy hoạch lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, không thuộc quy hoạch sử dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Ông Vũ Duy L sử dụng thửa đất số 360 thuộc loại đất rừng sản xuất từ năm 2003 đến nay, đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của điều luật viện dẫn nêu trên.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Duy L; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

Về án phí:

[8] Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Đặng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Do ông H là người cao tuổi, nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông H.

[9] Án phí phúc thẩm: Ông Vũ Duy L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí tố tụng:

[10] Ông Nguyễn Đặng H phải chịu chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm là 14.400.000 đồng hoàn trả cho ông Vũ Duy L.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Duy L; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên, như sau:

Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 163, 164, 166 Bộ luật dân sự; điểm c khoản 2 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Duy L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Đặng H.
    1. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 412811, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00631 do ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 27/11/2013 mang tên ông Nguyễn Đặng H đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V (cũ), tỉnh Thái Nguyên.
    2. Công nhận cho ông Vũ Duy L được sử dụng thửa đất số 360, tờ bản đồ số 5 xã V (cũ), tỉnh Thái Nguyên, diện tích 13.077,9 m2, tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên.
    3. Buộc ông Nguyễn Đặng H giao nộp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00631, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 27/11/2013 mang tên ông Nguyễn Đặng H cho cơ quan có thẩm quyền. Ông Vũ Duy L được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
  2. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Đặng H; Hoàn trả ông Vũ Duy L 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0006989 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên
    2. Án phí phúc thẩm: Ông Vũ Duy L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Đặng H phải chịu chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm là 14.400.000 đồng hoàn trả cho ông Vũ Duy L.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND KV 5-Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Quý Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2025/DS-PT ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 220/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Duy Lân và ông Nguyễn Đặng Hải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger