|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 220/2025/HS-PT
Ngày: 23-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Phương Thanh
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Nhã – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Lượm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 227/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo Đinh Huy T (và các bị cáo khác), do có kháng cáo của bị cáo T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Huy T, sinh ngày 27/7/1990 tại Sóc Trăng.
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Số A, đường N, khóm E, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là số A, đường N, khóm E, phường S, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh O (Chết) và bà Điền Thị S (Chết); Bị cáo có vợ và 02 người con; Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Vào ngày 02/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong và được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị cáo: Võ Sứ E, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường K, khóm F, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là số B, đường K, Khóm F, phường S, thành phố Cần Thơ).
- Bị hại: Bà Lâm Thị Thu H, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
+ Ông Lý Minh T1, sinh năm 2007 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ.
+ Bà Huỳnh Thị Mỹ H1, sinh năm 1968 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường L, phường P, Thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Bạch Đ và con trai tên Huỳnh Đằng P là các đối tượng cho vay lãi nặng trái pháp luật với lãi suất rất cao (từ 180% đến 260%/năm), người vay có tài sản giao cho ông Đ để bảo đảm thì lãi suất được tính thấp hơn người vay không có tài sản bảo đảm. Do lãi suất rất cao nên có trường hợp người vay không có khả năng thanh toán nợ thì ông Đ và ông P sử dụng các đối tượng có tiền án, tiền sự bắt, giữ người nợ tiền vay trái pháp luật, dùng vũ lực đối với họ nhằm buộc họ ký nhận nợ và trả nợ. Cụ thể là bà Lâm Thị Thu H đã vay tiền của ông Đ với lãi suất cao nhưng bà H không thanh toán nợ theo yêu cầu của ông Đ nên bà H bị bắt, giữ trái pháp luật, buộc bà ký nhận nợ và phải thực hiện nhiệm vụ trả nợ. Diễn biến hành vi phạm tội của ông Huỳnh Bạch Đ, ông Huỳnh Đằng P và các đối tượng giúp sức diễn ra cụ thể như sau:
Bà H bắt đầu vay tiền của ông Đ lần đầu vào tháng 12/2022 với lãi suất 30%, qua nhiều lần trả nợ, trả lãi, sau đó tiếp tục vay lại cũng như nhiều lần cộng dồn tiền lãi vào tiền vay gốc thì bà H còn nợ của ông Đ với tổng số tiền là 2.900.000.000 đồng và bà H không còn khả năng thanh toán nợ, ông Đ nhiều lần yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H không có khả năng thanh toán.
Vào trưa ngày 12/11/2024, khi bà H cùng với bà Huỳnh Thị Mỹ H1 là bạn của bà H đến Văn phòng Công chứng “Hồng Bàng” trên đường T, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường P, thành phố C) để nhờ ông Huỳnh Đằng P làm thủ tục đáo hạn ngân hàng nhằm giúp bà H có điều kiện tiếp tục vay tiền ngân hàng trả cho ông Đ nhưng khi bà H và bà H1 đến trước và đợi P tại quán nước gần Văn phòng Công chứng “Hồng Bàng” thì P không giúp bà làm thủ tục đáo hạn ngân hàng theo hứa hẹn trước mà P gọi điện thoại thông báo cho ông Đ biết vị trí hiện tại của bà H để ông Đ đến bắt bà H đưa về nhà, giữ bà H trái pháp luật để ép buộc bà viết thêm giấy nợ và buộc trả nợ. Sau đó, ông Đ điều khiển xe ôtô biển số 83A-129.93 cùng vợ là bà Vương Diệu N đến gặp bà H tại quán nước gần Văn phòng Công chứng “Hồng Bàng”. Tại đây giữa ông Đ và bà H có cự cải với nhau và ông Đ nhiều lần yêu cầu bà H lên xe ôtô để ông Đ chở về nhà ông giải quyết nợ nhưng bà H không đồng ý đi. Lúc này, Võ Sứ E đến thì ông Đ nói bà H thiếu tiền không trả và kêu Võ Sứ E cùng với ông bắt bà H đưa về nhà Đằng để giải quyết nợ nhưng bà H vẫn không đồng ý đi thì Võ Sứ E dùng điện thoại di động để chụp hình bà H lại nhằm để uy hiếp tinh thần đối với bà đồng thời cùng ông Đ yêu cầu bà H lên xe để về nhà ông Đ giải quyết nợ nhưng bà H vẫn không đồng ý đi. Ngay sau đó, Đinh Huy T là bạn của Sứ E điều khiển xe mô tô đến và T cũng tham gia yêu cầu bà H đến nhà ông Đ để giải quyết nợ. Lúc này thấy phía ông Đ đông người và sợ không đi thì những người này sẽ đến nhà bà H quậy phá, mặc dù không đồng ý nhưng bà phải miễn cưỡng đi về nhà ông Đ và bà H nhờ bà H1 chở bà bằng xe mô tô của bà H1 đưa bà đến nhà ông Đ để bà giảm bớt đi nỗi sợ.
Khi bà H1 điều khiển xe mô tô chở bà H đi trên đường T, phường P, thành phố Cần Thơ theo hướng về nhà ông Đ thì ông Đ và Sứ E mỗi người điều khiển một xe ô tô và T điều khiển xe mô tô chạy kè theo xe của bà H1 nhằm không để bà H và bà H1 bỏ chạy. Khi đi đến trước Công ty X, đường T, thành phố Cần Thơ, thì bà H1 rất lo sợ nên bà H1 không dám tiếp tục chở bà H đến nhà ông Đ, bà H1 dừng xe lại cho bà H xuống xe, lúc này T lớn tiếng, yêu cầu và buộc bà H lên ngồi sau xe mô tô của T để T chở về nhà ông Đ, đồng thời khi về đến nhà của ông Đ thì bà H1 thông tin qua điện thoại cho Lý Minh T1 biết bà H bị một số người bắt dẫn đi thì T1 đoán biết ông Đ bắt bà H dẫn về nhà của ông Đ nên T1 điểu khiển xe mô tô chạy tới nhà ông Đ.
Khi đến trước cổng nhà ông Đ tại số A đường K, khóm B, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường S, thành phố C) thì bà H không đồng ý đi vào nhà mà chần chừ phía trước cổng, một lúc sau thì bà thấy Lý Minh T1 tới nên bà H đi vào nhà ông Đ. Còn T1 thì ở khu vực phía bên ngoài, lúc này lo sợ cho bà H có chuyện nên T1 đã gọi điện thoại trình báo đến Công an phường E1, thành phố S (nay là Công an phường S, thành phố Cần Thơ).
Lúc này khu vực trước sân của ông Đ có Sứ Em, T, một lúc sau thì có thêm Lâm Thắng và Đỗ Thanh H3 là bạn của Sứ E đến, mục đích là để giữ bà H không cho bà H bỏ ra về. Một lúc sau, thì P điều khiển xe đến nhà của ông Đ, P gặp bà H và yêu cầu bà H vào căn phòng rồi lớn tiếng chửi, đe dọa bà H buộc bà H viết thêm giấy nợ và tiền lãi mà bà H chưa trả nhưng bà H không đồng ý và yêu cầu cho bà được ra về. Lúc này, P không cho bà H ra về và kêu người đóng cửa hàng rào lại, đồng thời P dùng tay đánh vào mặt bà H một cái. Thấy bà H bị đánh nên T1 chạy tới xin P cho bà H về nhưng P không cho và khoảng 20 phút sau thì có lực lượng Công an E1, thành phố S đến làm việc.
Về vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra tạm giữ: 04 điện thoại di động các loại; 01 xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại VIOS G, số máy: 2NRX840194, SỐ KHUNG: RL4B23F3XN5124651, biển số 83A-129.93, màu sơn trắng, xe đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS.KV5 ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ truy tố các bị cáo Huỳnh Bạch Đ, Huỳnh Đằng P, Võ Sứ E và Đinh Huy T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cần Thơ, đã quyết định (tóm tắt):
Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Huy T.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Huy T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt bị cáo Đinh Huy T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Bạch Đ, Huỳnh Đằng P, Võ Sứ E; quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/9/2025, bị cáo Đinh Huy T kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, với các lý do: Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bản thân là người dân tộc Khmer, thiếu hiểu biết pháp luật; làm thuê nuôi 02 con còn nhỏ đang đi học (Đinh Hoàng Ngọc T2, sinh năm 2020 và Đinh Thiên P1, sinh năm 2015); vợ bị cáo làm nội trợ thu nhập không ổn định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không bổ sung thêm chứng cứ mới. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo Đinh Huy T 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Huy T nộp ngày 24/9/2025, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/9/2025) nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-
Bà Lâm Thị Thu H vay tiền của ông Huỳnh Bạch Đ (bị cáo trong vụ án) với lãi suất cao, không có khả năng chi trả. Trưa ngày 12/11/2024, lấy lý do hỗ trợ đáo hạn ngân hàng, Huỳnh Đằng P (con ông Đ, bị cáo trong vụ án) lừa bà H đến một quán nước (gần Văn phòng Công chứng “Hồng Bàng” trên đường T, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, nay là phường P, thành phố Cần Thơ) rồi báo cho ông Đ biết. Tại đây, ông Đ cùng Võ Sứ E (bị cáo trong vụ án) và Đinh Huy T đã ép buộc, uy hiếp tinh thần, Sứ E dùng điện thoại di động chụp hình bà H để gây áp lực, buộc bà H về nhà ông Đ trái với ý muốn của bà. Trên đường đi, các bị cáo dùng xe ô tô và mô tô áp sát, không cho bà H bỏ trốn. Theo yêu cầu của Sứ E, bị cáo T dùng xe mô tô chở bà H về nhà ông Đ khi bà H1 lo sợ không tiếp tục chở. Tại nhà ông Đ, bà H bị giữ lại, bị ép buộc viết thêm giấy vay nợ. Khi bà H không đồng ý thì P lớn tiếng, chửi bới, đe dọa và dùng tay đánh vào mặt bà H, đóng cửa rào để giữ bà H lại, không cho ra ngoài. Đến khi lực lượng Công an đến làm việc thì bà H mới được giải cứu.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự xã hội ở địa phương. Vì vậy, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Huỳnh Bạch Đ, Huỳnh Đằng P, Võ Sứ E và Đinh Huy T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về vai trò và tính chất hành vi: Trong vụ án này, bị cáo Tân đóng vai trò là đồng phạm giúp sức. Bị cáo trực tiếp dùng xe mô tô chở bị hại Lâm Thị Thu H về nhà bị cáo Huỳnh Bạch Đ khi bà H1 không tiếp tục chở để giữ người trái pháp luật. Hành vi của bị cáo là manh động, thực hiện ngang nhiên nơi công cộng, xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về "Tội đánh bạc" vào năm 2021. Mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý.
Xét các tình tiết giảm nhẹ: Tại cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, là người dân tộc Khmer, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật phần nào còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngoài các tình tiết nêu trên, bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như bản án sơ thẩm đã tuyên (09 tháng tù) là tương xứng với tính chất, mức độ tham gia phạm tội và nhân thân, đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, việc bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở để chấp nhận.
- Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T về việc xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không có căn cứ chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí theo quy định.
-
Đối với Võ Sứ E:
Mặc dù, không bị kháng cáo, kháng nghị đối với phần quyết định hình phạt, nhưng qua xem xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Võ Sứ E đóng vai trò giúp sức tích cực. Khi bà H không đồng ý đi về nhà ông Đ thì bị cáo Sứ E lớn tiếng, dùng điện thoại di động chụp hình bị hại để gây áp lực, uy hiếp tinh thần.
Trên đường đi, bị cáo Sứ E điều khiển xe ô tô chạy kè sát theo xe bị hại nhằm ngăn chặn việc bỏ chạy, bị cáo giúp sức tích cực trong việc bắt, giữ bị hại cho đến khi hoàn thành đưa về nhà ông Đ để ép buộc ký giấy nhận nợ, trả nợ. Cấp sơ thẩm nhận định, bị cáo Sứ E phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ tham gia phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo Võ Sứ E có nhân thân xấu, thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo đã hai lần bị kết án về các tội xâm phạm quyền sở hữu do lỗi cố ý, cụ thể: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”; năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngoài hai lần bị kết án nêu trên, ngày 26/02/2025, bị cáo Sứ E còn bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ các loại vũ khí thô sơ, có khả năng gây sát thương, nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác và lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự nhân phẩm thành viên gia đình”. Điều này cho thấy, bị cáo có lối sống bạo lực, không có sự cải thiện sau nhiều lần bị xử lý. Việc cấp sơ thẩm quyết định áp dụng hình phạt 01 năm cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Sứ E là không tương xứng với tính chất, mức độ tham gia phạm tội và nhân thân, không đủ sức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Do bị cáo Võ Sứ E không bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cấp phúc thẩm không thể sửa án theo hướng bất lợi cho bị cáo. Tuy nhiên, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được nghiêm minh, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xem xét, kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm đối với phần bản án sơ thẩm của bị cáo Võ Sứ E theo hướng: Hủy một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Sứ E để xét xử lại, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Huy T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Cần Thơ về phần hình phạt đối với bị cáo Đinh Huy T.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Huy T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật".
Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025).
- Xử phạt bị cáo Đinh Huy T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án.
-
Về án phí:
- + Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đinh Huy T phải nộp 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng).
- + Án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Đinh Huy T phải nộp 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bảo Anh |
Bản án số 220/2025/HS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (bắt, giữ người trái pháp luật)
- Số bản án: 220/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt, giữ người trái pháp luật)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
