|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 22/2026/HS-PT Ngày: 15/01/2026 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Phương Hạnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Hưng; |
| Bà Hoàng Thị Bích Hải. |
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 558/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 654/2025/HS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị H, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Thôn Đ, thị trấn T, huyện B, thành phố Hà Nội (nay là thôn Đ, xã Q, thành phố Hà Nội); giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Giám đốc Công ty TNHH M; con ông Trần Quốc R và con bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Thế H1 (bị cáo khai tại phiên tòa phúc thẩm là đã ly hôn năm 2023); có 03 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 06/5/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH M (sau đây viết tắt là Công ty M) trụ sở tại đội 1, Nông trường dứa S, thị trấn T, huyện B, thành phố Hà Nội được Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp đăng ký lần đầu ngày 25/8/2021 do Trần Thị H làm Giám đốc; ngành nghề kinh doanh: Gia công hàng hóa may mặc để cung cấp nội địa và xuất khẩu sang nước ngoài. Vốn điều lệ là1.900.000.000 đồng. Đăng ký thay đổi lần 3 ngày 24/11/2022.
Cuối năm 2022, do không có tiền nên công ty TNHH M của Trần Thị H hoạt động thua lỗ. Trần Thị H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thông qua phương thức, thủ đoạn gian dối thuê thiết bị máy may của các công ty cho thuê thiết bị máy may với mục đích mang đi cầm cố hoặc bán lấy tiền để sử dụng cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại các thiết bị máy may cho các công ty đã cho H thuê. Từ ngày 08/01/2023 đến ngày 20/6/2023, Trần Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của Công ty TNHH M1, Công ty TNHH X và Công ty TNHH V thiết bị máy may có giá trị là 761.019.300 đồng để mang đi bán và cầm cố, cụ thể như sau:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt các thiết bị máy may của Công ty TNHH M1 (sau đây viết tắt là Công ty M1).
Khoảng tháng 9/2022, thông qua quan hệ kinh doanh, Trần Thị H quen biết Thân Văn S (sinh năm 1988, HKTT: 240 phố N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) là Giám đốc Công ty TNHH T2, địa chỉ tại xóm T, thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Công ty chuyên sản xuất, gia công hàng may mặc, mua bán, sửa chữa máy may. H trao đổi với S về việc H muốn bán hoặc cầm cố các thiết bị máy may của Công ty TNHH M do H là Giám đốc. Để Sáng tin Công ty của H có các thiết bị máy may, H đưa Sáng đến xưởng sản xuất may mặc của H tại thị trấn T, huyện B, thành phố Hà Nội để Sáng thăm quan máy móc, bao gồm cả các thiết bị máy may đi thuê nhưng H nói là của Công ty M nên S đồng ý. H và Sáng thỏa thuận thời hạn cầm cố 01 tháng, quá thời hạn H không chuộc lại tài sản, S sẽ thanh lý số máy để thu hồi vốn, lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, giữa H và anh S không lập hợp đồng, giấy tờ thỏa thuận.
Ngày 08/01/2023, Trần Thị H ký Hợp đồng số CVA-HB/074/2022 với Công ty TNHH M1, địa chỉ tại số D, ngách H, ngõ H Đường K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội do anh Cấn Việt C (sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc. Theo đó, Trần Thị H thuê của Công ty M1 04 máy nhãn hiệu Kingtex với giá 5.500.000 đồng/tháng/máy, hình thức thanh chuyển khoản. Ngày 10/01/2023, H tiếp tục thuê của Công ty M1 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas với giá 10.000.000 đồng/tháng/máy. Ngày 12/01/2023, anh C và H đã thống nhất ký lại Hợp đồng số 070/SKN-HB đối với 04 máy nhãn hiệu Kingtex với giá 5.500.000 đồng/tháng/máy và 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas với giá 10.000.000 đồng/tháng/máy, thời hạn thuê từ ngày 12/01/2023 đến ngày 11/04/2023, H không được quyền bán, chuyển nhượng hay cầm cố.
Mặc dù Công ty TNHH M2 cho phép H được mang số máy đã thuê đi bán hay cầm cố, nhưng do cần tiền nên sau khi thuê được các thiết bị máy may, H đã cầm cố cho S, cụ thể:
- - Ngày 11/01/2023, S nhận cầm cố cho H 02 máy may lập trình trần bông hiệu Vinmas, cụ thể máy: VMS-K9-900A:21071411502 và máy VMS-K8T-13080A:2103201031756 với giá 70.000.000 đồng/máy. Sau đó, S chuyển 140.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 0941841985 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3.
- - Ngày 17/01/2023, S nhận cầm cố cho H 04 máy nhãn hiệu Kingtex, gồm: NTD-6712:9220221; Kingtex NTD-6712:9215180; Kingtex NTD-6712:9220224; Kingtex NTD-6712:9220145 với giá 20.000.000 đồng. Sau đó, S chuyển 80.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 0941841985 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3.
Tổng số tiền H đã cầm cố là 220.000.000 đồng, H đã sử dụng trả lương công nhân và sử dụng cho mục đích cá nhân.
Do H đã mang các thiết bị máy may đi cầm cố nên ngày 11/4/2023 khi hết thời hạn thuê các thiết bị máy may với Công ty M1, H đã có hành vi gian dối tiếp tục thỏa thuận với Công ty S1 thêm thời gian thuê máy đến ngày 31/8/2023, nhưng không làm hợp đồng. Ngày 29/4/2023, H trả cho Công ty M1 số tiền thuê máy là 111.000.000 đồng. Ngày 31/8/2023 hết hạn hợp đồng, H không trả được máy và tiền thuê máy cho Công ty S2 Đến ngày 10/10/2023, H chuộc lại 02 máy nhãn hiệu Kingtex của Sáng với số tiền là 60.000.000 đồng và trả lại 02 máy này cho Công ty M1, còn lại 02 máy nhãn hiệu Kingtex sản xuất năm 2021 (số S: NTD-6712: 9220224; NTD-6712: 9220145) và 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas sản xuất năm 2021 (số S: VMS-K9-900A: 21071411502; VMS-K8T-13080A: 2103201031756) do H không có tiền chuộc nên không trả lại được cho Công ty S2
Quá thời hạn không thấy H chuộc lại 02 máy nhãn hiệu Kingtex sản xuất năm 2021 và 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas sản xuất năm 2021, S đã bán cho các khách hàng không quen biết được tổng số tiền là 190.000.000 đồng. Sáng không nhớ thời gian bán các máy này.
Sau khi không thấy H trả lại các thiết bị máy may đã thuê còn lại, ngày 07/11/2023 anh Cấn Việt C - đại diện Công ty M1 đã làm đơn gửi Cơ quan Công an huyện B tố cáo Trần Thị H có hành vi chiếm đoạt tài sản là 02 máy nhãn hiệu Kingtex sản xuất năm 2021 và 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas sản xuất năm 2021.
-
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL- GĐTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận:
- + 02 máy may nhãn hiệu Kingtex, sản xuất năm 2021 trị giá là 81.604.800 đồng;
- + 02 máy may lập trình trần bông nhãn hiệu Vimas, sản xuất năm 2021 trị giá là 157.881.600 đồng;
-
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL- GĐTS ngày 01/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận:
- + 02 máy may nhãn hiệu Kingtex, số Seri: NTD-6712: 9220221104017203; NTD-6712: 9215180 trị giá là 69.365.440 đồng.
Tổng giá trị 06 thiết bị máy may trên là 308.851.840 đồng.
- - Tại Bản kết luận giám định số 6111/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết và chữ ký của Trần Thị H trên Hợp đồng cho thuê máy ngày 08/01/2023 và 12/01/2023 với các mẫu so sánh là do cùng một người viết và ký ra.
Ngày 29/10/2024, gia đình H đã khắc phục trả cho Công ty M1 số tiền 100.000.000 đồng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty M1 yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 223.000.000 đồng là tiền giá trị các máy còn bị chiếm đoạt và 309.487.400 đồng là số tiền H thuê máy chưa trả.
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt các thiết bị máy may của Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X).
Ngày 15/02/2023, Trần Thị H ký Hợp đồng số 20231502/HĐKT với Công ty TNHH X, địa chỉ tại số E Đ, phường L, quận L, thành phố Hà Nội do anh Vũ Văn Đ (sinh năm 1994, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) làm Giám đốc. Nội dung hợp đồng thể hiện: Trần Thị H thuê của Công ty X (bảy) bộ máy may nhãn hiệu Jack, có dán tem chống vỡ, sản xuất năm 2022; 07 (bảy) máy vắt sổ liền trục nhãn hiệu Jack, sản xuất năm 2022 (số seri: HZ2IR004403; HZ2GJ00368B; HZ2GJ00766B; HZ2IJ01951; HZ2IJ02058; HZ2EN01048; HZ2EJ40181B), thời hạn thuê từ ngày 18/02/2023 đến ngày 17/3/2023 với số tiền thuê là 14.700.000 đồng/tháng/14 máy, H không được quyền bán, chuyển nhượng hay cầm cố.
Sau khi thuê được các thiết bị máy may trên, H tiếp tục đến gặp Thân Văn S để cầm cố, thỏa thuận thời hạn cầm cố là 01 tháng, quá thời hạn H không chuộc lại, S sẽ thanh lý để thu hồi vốn, lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, giữa H và Sáng không lập hợp đồng hay giấy tờ thỏa thuận, cụ thể:
- - Ngày 18/02/2023, H mang 07 bộ máy may nhãn hiệu Jack và 07 máy vắt sổ liền trục nhãn hiệu Jack đến cầm cố cho S. Do thấy các thiết bị máy may trên có giá trị thấp, hàng phổ thông nên Sáng không nhận cầm cố mà muốn mua lại. Hòa đồng ý bán lại cho S với giá 6.000.000 đồng/máy, tổng cộng 14 máy là 84.000.000 đồng. Sau đó, S chuyển 84.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 0941841985 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3. Mặc dù đã bán các máy may cho S, cũng như hết thời hạn thuê là ngày 17/3/2023 với Công ty X, H tiếp tục có hành vi gian dối đề nghị Công ty X gia hạn thêm thời hạn thuê máy đến ngày 30/7/2023, nhưng không lập hợp đồng.
Sau khi nhận được 84.000.000 đồng, H sử dụng trả lương công nhân và sử dụng cá nhân. Sau đó, S đã bán toàn bộ số thiết bị máy may cho nhiều khách hàng được tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Sáng không nhớ thời gian đã bán máy và thông tin khách hàng mua máy.
Khi hết thời hạn thuê máy lần thứ hai, không thấy H trả lại 14 thiết bị máy may, ngày 30/10/2023 anh Vũ Văn Đ - đại diện Công ty X đã làm đơn tố giác gửi Công an huyện B tố cáo Trần Thị H có hành vi chiếm đoạt tài sản.
-
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL- GĐTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận:
- + 07 (bảy) máy may nhãn hiệu Jack có dán tem chống vỡ, màu trắng, xanh nước biển, sản xuất năm 2022 (đã qua sử dụng) trị giá là 45.202.500 đồng;
- + 07 (bảy) máy vắt sổ liền trục nhãn hiệu HiKaRi, màu trắng, hộp điện màu tím có số seri: HZ2IR004403; HZ2GJ00368B; HZ2GJ00766B; HZ2IJ01951; HZ2IJ02058; HZ2EN01048; HZ2EJ40181B sản xuất năm 2022 (đã qua sử dụng), trị giá là 63.000.000 đồng.
Tổng giá trị 14 thiết bị máy may trên là 108.202.500 đồng.
- - Tại Bản kết luận giám định số 6111/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết dòng họ tên Trần Thị H trên Hợp đồng cho thuê máy ngày 15/02/2023 với các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
Ngày 29/10/2024, gia đình H đã khắc phục cho Công ty X số tiền 50.000.000 đồng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty X yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 58.202.500 đồng.
3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH V (gọi tắt là công ty V).
Ngày 21/3/2023, Trần Thị H ký Hợp đồng số 338A-21032023/VSG-HOABINH/HĐCTCM với Công ty V, địa chỉ tại số A, P, đường N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên do anh Đoàn Văn T1 (sinh năm 1980, trú tại xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên) làm Giám đốc. Nội dung hợp đồng: Trần Thị H thuê của Công ty V 05 máy may lập trình nhãn hiệu Bruce; 01 máy in sơ đồ nhãn hiệu Richpeach; thời hạn thuê từ ngày 21/3/2023 đến ngày 20/9/2023; số tiền thuê máy là 55.000.000 đồng/tháng/6 máy, H không được quyền bán, chuyển nhượng hay cầm cố.
Sau khi thuê được các thiết bị máy may, H mang đến cầm cố cho Thân Văn S. Khi cầm cố, S và H thỏa thuận thời hạn cầm cố là 01 tháng, quá thời hạn nếu H không chuộc lại, S sẽ thanh lý để thu hồi vốn, lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, giữa H và anh S không lập hợp đồng hay giấy tờ thỏa thuận, cụ thể:
- - Ngày 08/4/2023, S nhận cầm cố cho H 02 máy may lập trình nhãn hiệu Bruce có số seri T14095A-STYX-F13: 22053505173 và T14095A-STYX-F13: 22053505171 với giá 65.000.000 đồng/máy. Sau đó, S chuyển 130.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 6897897898686 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3.
- - Ngày 20/4/2023, S nhận cầm cố cho H 02 máy may lập trình nhãn hiệu Bruce có số seri: T14095A-STYX-F13: 22043504730; T14095A-STYX-F13: 22053505171với giá 65.000.000 đồng/máy. Sáng chuyển 130.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 6897897898686 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3.
- - Ngày 20/6/2023, S nhận cầm cố cho H 01 máy may lập trình nhãn hiệu Bruce có số seri: T14095A-STYX-F13: 22043505000 với giá 65.000.000 đồng và 01 máy in sơ đồ nhãn hiệu Richpeach với giá 15.000.000 đồng. Sau đó, S chuyển 80.000.000 đồng từ tài khoản số 162184188 mang tên Thân Văn S mở tại Ngân hàng V1 đến tài khoản số 6897897898686 mang tên Trần Thị H mở tại Ngân hàng M3.
Tổng số tiền H cầm cố các máy may là 340.000.000 đồng, H đã sử dụng vào hoạt động của công ty. Ngày 24/8/2023 và ngày 10/10/2023, H chuộc lại của Sáng 01 máy in sơ đồ hiệu Richpeach với số tiền 15.700.000 đồng; 01 máy lập trình nhãn hiệu Bruce với số tiền 80.000.000 đồng, sau đó H đã trả lại 02 máy này cho Công ty V. Quá thời hạn thỏa thuận, không thấy H chuộc lại 04 máy lập trình nhãn hiệu Bruce sản xuất năm 2022 (số S: 22053505173; 22053505171; 22043504730; 22053505171), S đã bán cho các khách hàng không quen biết được tổng số tiền là 280.000.000 đồng. Sáng không nhớ thời gian đã bán máy. Hiện không thu hồi được các máy này.
Quá thời hạn thuê, không thấy H trả lại 04 máy lập trình nhãn hiệu Bruce sản xuất năm 2022, ngày 30/10/2023 anh Đoàn Văn T1 - đại diện Công ty V đã làm đơn tố giác gửi đến Công an huyện B tố cáo Trần Thị H có hành vi chiếm đoạt tài sản.
-
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL- GĐTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận:
- + 04 máy may lập trình hiệu Bruce, số S: 22053505173; 22053505171; 22043504730; 22053505171 sản xuất năm 2022 (đã qua sử dụng) trị giá là 413.330.400 đồng.
-
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL- GĐTS ngày 01/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận:
- + 01 máy may lập trình nhãn hiệu Bruce, số S: T14095A-STY-F13:22043505000 (đã qua sử dụng) trị giá là 87.259.400 đồng;
- + 01 máy in sơ đồ nhãn hiệu Richreach, số S: RPGP-MJ2/4-180:104017203 (đã qua sử dụng) trị giá là 37.128.520 đồng;
Tổng giá trị 06 thiết bị máy may trên là 537.718.320 đồng.
- - Tại Bản kết luận giám định số 6111/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết dòng họ tên Trần Thị H trên Hợp đồng cho thuê máy ngày 21/3/2023 với các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
Ngày 29/10/2024, gia đình Trần Thị H đã khắc phục trả cho Công ty V số tiền 150.000.000 đồng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty V yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 370.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án. H khai cuối năm 2022 công ty TNHH M do H làm Giám đốc làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần không có tiền để hoạt động. Để có tiền, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức thuê thiết bị may mặc của các công ty sau đó mang đi cầm cố hoặc bán cho Thân Văn S dẫn đến không có khả năng chuộc lại tài sản. Khi cầm cố cho S, H nói với S số máy này là của công ty H2.
Như vậy, do cần tiền Trần Thị H đã có hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt 22 thiết bị máy may của 03 công ty trên với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 761.019.300 đồng, gia đình Trần Thị H đã khắc phục cho 03 công ty tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Hiện 22 thiết bị máy may trên chưa được thu hồi. Công ty V yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 370.000.000 đồng. Công ty X yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 58.202.500 đồng. Công ty M1 yêu cầu Trần Thị H bồi thường số tiền 223.000.000 đồng là tiền giá trị các máy còn chiếm đoạt và 309.487.400 đồng tiền thuê máy chưa trả.
Đối với hành vi cầm cố tài sản cho vay tiền của Thân Văn S: Quá trình điều tra xác định mặc dù S và H thỏa thuận về việc vay tiền có tính lãi suất 3.000 đồng/ngày, tuy nhiên khi H chuộc lại 04 thiết bị máy may, S chỉ thu số tiền gốc và tổng số tiền lãi là 35.700.000 đồng (trong đó lãi suất lần lượt là 26%/năm, 68%/năm và 75%/năm). Do đó, không có căn cứ xác định S có hành vi cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Thân Văn S không có giấy phép hoạt động kinh doanh về lĩnh vực cầm cố đã vi phạm điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu xử phạt hành chính đối với hành vi trên của Thân Văn S nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 654/2025/HS-ST ngày 16/9/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 29/9/2025, bị cáo Trần Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét điều kiện, hoàn cảnh Công ty của bị cáo bị ảnh hưởng của hậu dịch Covid không có đơn hàng may gia công xuất khẩu trong khi bị cáo vẫn phải trả lương cho công nhân, duy trì hoạt động của công ty, bị cáo không sử dụng tiền chiếm đoạt vào mục đích khác để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 là có căn cứ, đúng pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho 03 công ty với tổng số tiền 408 triệu đồng tương đương hơn 50% số tiền chiếm đoạt. Bị cáo chiếm đoạt tiền nhằm mục đích duy trì hoạt động của công ty do bị cáo làm Giám đốc do bị ảnh hưởng hậu dịch Covid 19, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ chồng ly hôn và có 03 con nhỏ. Mức án 13 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết quả giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền sử dụng cho mục đích cá nhân, Trần Thị H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của các công ty cho thuê thiết bị máy may bằng thủ đoạn gian dối thông qua hình thức H thuê các thiết bị máy may, sau đó mang đi cầm cố hoặc bán cho Thân Văn S. Từ ngày 08/01/2023 đến ngày 20/6/2023, Trần Thị H đã thuê 04 thiết bị máy may trị giá 239.486.400 đồng của Công ty TNHH M1; thuê 14 thiết bị máy may trị giá 108.202.500 đồng của Công ty TNHH X; thuê 04 thiết bị máy may trị giá 413.330.400 đồng của Công ty TNHH V. Sau đó, H mang đi cầm cố và bán cho Thân Văn S được 488.300.000 đồng. Số tiền cầm cố và bán các thiết bị máy may, H sử dụng hết cho mục đích cá nhân dẫn đến không có tiền chuộc lại tài sản. Số thiết bị máy may do H cầm cố, S đã bán cho nhiều người dẫn đến không thu hồi được. Gia đình Trần Thị H đã bồi thường cho Công ty TNHH V số tiền 175.000.000 đồng; bồi thường cho Công ty TNHH M1 125.000.000 đồng và bồi thường cho Công ty TNHH X 108.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền gia đình Trần Thị H đã khắc phục cho 03 công ty là 408.000.000 đồng. Công ty TNHH M1 yêu cầu H bồi thường 223.000.000 đồng giá trị máy còn bị chiếm đoạt và 309.487.400 đồng tiền thuê máy chưa trả, Công ty TNHH V yêu cầu H bồi thường 263.330.000 đồng giá trị máy còn bị chiếm đoạt và 586.166.677 đồng tiền thuê máy chưa trả. Công ty TNHH X xác nhận H đã bồi thường xong và không có yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với H. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử bị cáo Trần Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị H, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Quá trình điều tra, xét xử bị cáo Trần Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho các bị hại với tổng số tiền là 408.000.000 đồng trong tổng số tiền 761.019.300 đồng bị quy kết chiếm đoạt. Tài liệu hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H đều có lời khai thể hiện sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại vào việc trả lương công nhân và duy trì hoạt động của công ty M do bị cáo làm Giám đốc. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy bị cáo H phạm tội xuất phát từ việc công ty của bị cáo bị ảnh hưởng của hậu dịch C1 và suy thoái kinh tế, không có đơn hàng may gia công xuất khẩu trong khi vẫn phải trả lương cho công nhân và duy trì hoạt động của công ty, không phải chiếm đoạt tiền để sử dụng chi tiêu cá nhân. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã nhận thức được sai phạm và đã tác động gia đình khắc phục được hơn một nửa số tiền chiếm đoạt cho các bị hại, thể hiện ý thức khắc phục hậu quả của bị cáo và được các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày bị cáo có 03 con nhỏ, trong đó con nhỏ nhất sinh năm 2015 và sau khi xảy ra sự việc vợ chồng bị cáo đã ly hôn. Theo hướng dẫn tại khoản 9 Điều 3 Nghị Quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì trường hợp bị cáo H có 03 con nhỏ, thời điểm bị cáo phạm tội các con đều dưới 15 tuổi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng thêm cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Do bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu cũng như xem xét nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo H như đã nêu trên nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị H, giảm cho bị cáo H một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải, có ý thức khắc phục hậu quả, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 654/2025/HS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thị H, cụ thể như sau:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 11 (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 22/2026/HS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 22/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền sử dụng cho mục đích cá nhân, Trần Thị Hòa đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của các công ty cho thuê thiết bị máy may bằng thủ đoạn gian dối thông qua hình thức Hòa thuê các thiết bị máy may, sau đó mang đi cầm cố hoặc bán cho Thân Văn Sáng. Từ ngày 08/01/2023 đến ngày 20/6/2023, Trần Thị Hòa đã thuê 04 thiết bị máy may trị giá 239.486.400 đồng của Công ty TNHH máy may Sky New; thuê 14 thiết bị máy may trị giá 108.202.500 đồng của Công ty TNHH xuất nhập khẩu B.I.T; thuê 04 thiết bị máy may trị giá 413.330.400 đồng của Công ty TNHH Vsmart Garment. Sau đó, Hòa mang đi cầm cố và bán cho Thân Văn Sáng được 488.300.000 đồng. Số tiền cầm cố và bán các thiết bị máy may, Hòa sử dụng hết cho mục đích cá nhân dẫn đến không có tiền chuộc lại tài sản. Số thiết bị máy may do Hòa cầm cố, Sáng đã bán cho nhiều người dẫn đến không thu hồi được. Gia đình Trần Thị Hòa đã bồi thường cho Công ty TNHH Vsmart Garment số tiền 175.000.000 đồng; bồi thường cho Công ty TNHH máy may Sky New 125.000.000 đồng và bồi thường cho Công ty TNHH xuất nhập khẩu B.I.T 108.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền gia đình Trần Thị Hòa đã khắc phục cho 03 công ty là 408.000.000 đồng. Công ty TNHH máy may Sky New yêu cầu Hòa bồi thường 223.000.000 đồng giá trị máy còn bị chiếm đoạt và 309.487.400 đồng tiền thuê máy chưa trả, Công ty TNHH Vsmart Garment yêu cầu Hòa bồi thường 263.330.000 đồng giá trị máy còn bị chiếm đoạt và 586.166.677 đồng tiền thuê máy chưa trả. Công ty TNHH xuất nhập khẩu B.I.T xác nhận Hòa đã bồi thường xong và không có yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với Hòa
