Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2026/HS-PT

Ngày: 16/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;
  • Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Huyền và bà Nguyễn Thị Thu Trang.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thoán - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 308/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vục 8 - Đắk Lắk.

Họ và tên: TRẦN VĂN H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/1964. Nơi sinh: Tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: A N, tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk); Chỗ ở hiện nay: buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần R (đã chết) và bà Tạ Thị H1, sinh năm 1934; Bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1969 (đã ly hôn năm 2016) và có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/5/1996, bị cáo Trần Văn H bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất nổ, quy định tại Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ngày 16/9/1996, VKSND tỉnh Đắk Lắk quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra đối với bị cáo Trần Văn H, chuyển xử lý hành chính theo quy định.

Ngày 16/8/2012, Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng đối với bị can Trần Văn H, về hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác.

Ngày 11/10/2013, Công an Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng đối với bị can Trần Văn H, về hành vi trực tiếp xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến đến sức khỏe, tính mạng của người khác.

Ngày 02/12/2014, bị cáo Trần Văn H bị Cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 12/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can Trần Văn H, do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, từ ngày 08/5/2025 đến nay, tại Phân trại giam khu vực Buôn H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H có: Ông Lê Xuân Anh P, bà Lê Thị Thu P1 và ông Nguyễn Văn L là các Luật sư thuộc Công ty L2 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Bà P1 có mặt; các ông P và L vắng mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A N, tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Hoàng Xuân T – Luật sư thuộc Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A N, tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

- Người làm chứng:

  • + Ông Phạm Văn B, sinh năm 1960. Địa chỉ: Buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  • + Anh Rơ Ô L1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • + Ông R Lan N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Gia Lai.
  • + Chị Kpă H M, sinh năm 1987. Địa chỉ: Buôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • + Anh R Com D, sinh năm 1977. Địa chỉ: Buôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • + Anh A Lê P2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Buôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • + Anh Kpă T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Buôn T, xã P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1969, trú tại A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) từng là vợ chồng, hai người ly hôn vào năm 2016 theo Bản án số 76/2016/HNGĐ-ST ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố B. Đối với phần tài sản chung là vườn rẫy ở thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk) có diện tích 4,3 ha, TAND thành phố Buôn Ma Thuột chia cho Trần Văn H quản lý sử dụng tài sản và quyền sử dụng đất có diện tích 2,2 ha đất và chia 2,1 ha đất còn lại cho bà H2. Tuy nhiên, bà H2 và bị cáo H không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Trong thời gian chờ kết quả giải quyết và trong thời gian này do vào mùa vụ thu hoạch cà phê nên Trần Văn H và bà H2 mỗi người tự thuê người vào hái cà phê đang tranh chấp, từ đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhau, cụ thể:

Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 25/11/2016, Trần Văn H đi cùng với ông Phạm Văn B, sinh năm 1960, trú tại buôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk) đến vườn rẫy tại buôn E, xã C để xem rẫy chuẩn bị cho việc thu hoạch cà phê. Khi đến vườn rẫy, ông H thấy người làm thuê cho bà H2 đang hái cà phê, gồm: Anh Rơ Ô L1, ông RLan N2 và chị Kpă H M, ông RCom D1, anh A Lê P2, và ông Kpă T1. Thấy vậy, bị cáo Hà đuổi những người đang hái cà phê cho bà H2 đi, không cho hái cà phê. Chị Kpă H M, ông R Com D và anh Rơ Ô L1 bỏ chạy lên khu vực nhà gỗ báo sự việc cho chị Trần Thị Thanh N, là con gái của bị cáo H và bà H2) biết việc bị cáo Hà Đ những người đang hái cà phê. Nghe vậy, chị N đi xuống khu vực hàng cau xem tình hình thì gặp bị cáo H, bị cáo H và chị N xảy ra cãi vã. Lúc này bị cáo H đang cầm trên tay một cây tre tươi, dài khoảng 1,2m, đường kính khoảng 1,5cm, bị cáo H dùng cây tre tươi đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào hai tay và hai chân của chị N, do bị cáo H đánh đau nên chị N bỏ chạy rồi nhặt cục đá và miếng ván bìa ném về phía bị cáo H nhưng được ông B can ngăn nên không ném trúng. Chị N bỏ đi và gọi điện thoại cho bà H2 thông báo sự việc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, bà H2 đến vườn rẫy, biết được sự việc bị cáo H dùng cây đánh chị N nên bà H2 nhặt một cành cây cà phê, cùng chị N đến gặp ông H tại khu vực hàng cau. Bà H2 dùng cành cà phê đánh bị cáo H, ông H dùng cây tre tươi đánh bà H2. Thấy vậy, chị N lao vào can ngăn thì bị Trần Văn H dùng cây tre này đánh liên tiếp trúng vào hai bên hông, bụng, hai tay, hai cẳng chân và đỉnh đầu của chị N. Bị cáo H đánh chị N cho đến khi cây tre bị dập nát phần đầu (gãy không đứt rời), khi đó bà H2 la lên nên Trần Văn H mới dừng lại. Bà H2 và chị Kpă H M dìu chị N lên khu vực chòi rẫy. Sau đó, chị N được đưa đến Bệnh viện đa khoa thị xã B để khám và điều trị

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1308 ngày 29/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận dấu vết - tổn thương của chị Trần Thị Thanh N như sau: Khối sưng vùng đỉnh đầu kích thước (8 x 4 x 2)cm, đau đầu, choáng váng; Sưng bầm ở cẳng tay phải và bàn tay phải. Nhiều vết sưng bầm phần cánh tay trái: Cẳng tay và khuỷu trái sưng bầm nhiều, vận động hạn chế, sưng bầm bàn tay và ngón I tay trái. Sưng bầm đỏ da ở hông trái kích thước (10 x 3)cm, ở thành trước bụng trái kích thước (10x3)cm; Sưng bầm phần cẳng chân phải và trái. Kết luận thương tích của chị N: Đa thương tích phần mềm 10%. Vật tác động: Cứng, tày.

Tại Bản kết luận pháp y bổ sung số 06 ngày 05/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận dấu vết - tổn thương của chị Trần Thị Thanh N như sau: Khối sưng nề vùng đỉnh đầu kích thước (8 x 4 x 2)cm, đau đầu, choáng váng; Sưng bầm ở cẳng tay phải và bàn tay phải; Nhiều vết sưng bầm phần cánh tay trái, khuỷu và cẳng tay trái sưng bầm nhiều, vận động hạn chế; Sưng bầm bàn tay và ngón I tay trái; Sưng bầm đỏ phần hông trái kích thước (10 x 3)cm và trước thành bụng trái kích thước (10 x 3)cm; Sưng bầm ở phần cẳng chân phải và trái; Chụp X-Q bàn tay trái: Nứt chỏm xương bàn số V chưa C. Kết luận thương tích của chị N: Đa thương, nứt chỏm xương bàn số V tay trái, tỷ lệ thương tích 14%. Vật tác động: Cứng, tày.

Ngoài vụ Trần Văn H đánh chị Trần Thị Thanh N gây thương tích vào ngày 25/11/2016 ra thì giữa bị cáo H, bà H2 và chị Trần Thị Mỹ H3 (con gái bà H2 và bị cáo H) còn nhiều lần xảy ra xô xát, đánh nhau tại vườn rẫy thuộc buôn E, xã C, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 24/10/2016, bà H2 bị bị cáo H gây thương tích ở hai mắt và đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ. Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1288 ngày 23/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận bà H2 bị tổn thương phù kết giác mạc, hai mắt giảm thị lực 8%. Vật gây thương tích: Hóa chất.

Vụ thứ hai: Vào ngày 23/11/2016, bà H2 và bị cáo H xảy ra xô xát, đánh nhau. Bị cáo H và bà H2 đi khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã B. Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 192 ngày 09/02/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông H bị thương tích ở vùng cổ - bàn tay hai bên trái các vết sờ nắn đau nhức và sưng nề nhẹ mô bàn chân trái. Tỷ lệ thương tích 2%. Vật tác động: Cứng, tày. Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1307 ngày 29/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận bà H2 bị thương tích phần mềm ở trán, môi, trên vú và cẳng chân trái. Tỷ lệ thương tích 3%. Vật tác động: Cứng, tày.

Vụ thứ ba: Vào ngày 26/11/2016, bà H2 và bị cáo H tiếp tục xảy ra xô xát, đánh nhau. Bà H2 bị bị cáo H đánh và sau đó đi khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã B. Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1307 ngày 29/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận bà H2 bị thương ở trán đỉnh trái kích thước 0,3cm; Xây xát niêm mạc môi dưới kích thước 0,3cm; Sưng bầm tím cánh cẳng tay hai bên, S nề đỏ ngang lưng. Tỷ lệ thương tích 6%, vật tác động: Cứng, tày.

Vụ thứ tư: Vào ngày 03/12/2016, giữa bà H2, chị Trần Thị Mỹ H3, sinh năm 1995 là con gái bà H2 và bị cáo H xảy ra xô xát, đánh nhau. Bị cáo H bị thương tích đi khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị xã B. Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 192 ngày 09/02/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông H bị sưng nề, đau nhức sống mũi; sưng nề, bầm tím nhẹ ở vai phải, sau cẳng tay phải, cẳng tay trái, khoeo chân trái. Tỷ lệ thương tích 4%, vật tác động: Cứng, tày.

Theo Biên án trích lục số 61 ngày 07/02/2017 của Bệnh viện Đ1 cung cấp và kết quả giám định thương tích thì bị cáo H bị sưng bàn tay trái, không có vết thương, đau khớp liên đốt gần ngón 3,4 tay trái. Tỷ lệ thương tích 3%, vật tác động cứng, tày. Theo Biên án sao trích lục này, bị cáo H vào viện hồi 14 giờ 20 phút ngày 03/01/2017 và ra viện hồi 15 giờ 15 phút cùng ngày, tuy nhiên quá trình điều trị bị cáo H không khai báo về việc xô xát và đánh nhau với ai dẫn đến bị thương tích 3%.

Đối với các vụ việc xô xát, đánh nhau xảy ra ngày 24/10/2016, 23/11/2016, 26/11/2016 và ngày 03/12/2016 giữa bị can Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H2 và chị Trần Thị Mỹ H3 tại vườn rẫy ở buôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đều đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ không xem xét giải quyết là có căn cứ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã thu giữ gồm: 01 khúc gậy tre dài 74cm, trên phần ngọn bị vỡ đôi, tước gãy, phần tước dài 16cm, phần gốc có đường kính mắt to nhất 02cm, toàn bộ cây có 03 đốt 03 mắt, cây tươi, do bà Nguyễn Thị H2 giao nộp. Bà H2 khai nhận, đây là cây tre Trần Văn H dùng đánh chị Trần Thị Thanh N gây thương tích vào ngày 25/11/2016; 01 khúc cây tre đã khô, màu vàng, kích thước 1,7m, đường kính đầu lớn 3,6cm, đường kính đầu nhỏ 3cm; 01 khúc cây gỗ muồng đã khô, màu xám đen, kích thước 1,13m, đường kính đầu lớn 3,8cm, đường kính đầu nhỏ 3,4cm và 03 tấm hình được ký hiệu I, II, III do bị can Trần Văn H giao nộp. Trần Văn H khai nhận, đây là cây tre liên quan đến vụ việc xảy ra vào ngày 23/11/2016; tấm hình ký hiệu I liên quan đến vụ việc xảy ra ngày 03/12/2016; 02 tấm hình còn lại liên quan đến vụ việc xảy ra ngày 26/11/2016. Hiện nay 03 tấm hình Trần Văn H giao nộp đã bị thất lạc trong quá trình lưu trữ hồ sơ

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Thanh N yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 101.263.851 đồng, bị cáo chưa bồi thường; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 để quyết định mức bồi thường cho bị hại theo quy định.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vục 8 - Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo TRẦN VĂN H: 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/5/2025).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Trần Văn H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại gồm: Chi phí điều trị vết thương, thu nhập bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị, tổn thất tinh thần và chi phí hợp lý khác cho chị Trần Thị Thanh N tổng số tiền 40.643.000 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 30/9/2025, bị cáo Trần Văn H kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án, tội danh và hình phạt không đúng với những tình tiết khách quan của vụ án. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại.

* Ngày 07/10/2025, bị hại Trần Thị Thanh N kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm tăng mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn H và tăng mức bồi thường.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Trần Văn H giữa nguyên kháng cáo, cho rằng mình bị oan, thương tích của N không phải do bị cáo gây ra, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa có cơ sở xác định khúc gậy tre do bà H2 giao nộp là vật chứng của vụ án; lời khai của các nhân chứng trong hồ sơ mâu thuẫn, thiếu khách quan do đều là người làm thuê cho bà H2; chưa chứng minh được thương tích của chị Trần Thị Thanh N do ai gây ra; kết luận giám định thương tích chỉ do một giám định viên ký là không đúng quy định; việc thực nghiệm điều tra và khám nghiệm hiện trường thiếu sự tham gia của nhân chứng quan trọng. Ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo H như gia đình có công với cách mạng, bản thân bị cáo có tham gia hoạt động thiện nguyện và có thành tích trong học tập, lao động.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Trần Thị Thanh N trình bày: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của các nhân chứng, có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Văn H đã dùng cây tre tươi đánh vào vùng đầu, tay và nhiều vị trí khác trên cơ thể chị N; đề nghị giữ nguyên tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Về hình phạt và trách nhiệm dân sự, người bảo vệ đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn H và tăng mức bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định của pháp luật. Bị hại nhất trí với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
  • - Kiểm sát viên tranh luận và đề nghị:

    Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1308 ngày 29/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ và Bản kết luận pháp y bổ sung số 06 ngày 05/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ chỉ có 01 Giám định viên là ông Từ Công H4 và 02 người giúp việc là chưa đúng theo quy định về thành phần Hội đồng giám định pháp y. Cơ quan điều tra chưa yêu cầu giám định lại thương tích, mà yêu cầu giám định bổ sung là chưa đúng. Mặt khác, người bị hại từ chối việc giám định lại, dẫn đến Trung tâm pháp y có văn bản từ chối giám định trên hồ sơ, nên chưa đủ cơ sở kết luận tỷ lệ thương tích của bị hại để xử lý đối với bị cáo.

    Cơ quan điều tra thu giữ USB của bị cáo, bị cáo cho rằng đoạn ghi âm ghi lại buổi đối chất giữa bị cáo và nhân chứng. Bị cáo Trần Văn H tố cáo Điều tra viên cho rằng biên bản ghi nhận việc đối chất giữa bị cáo và người làm chứng không đúng với lời khai trong buổi đối chất, nhưng không giám định đoạn ghi âm ghi để làm rõ và trả lời cho bị cáo là còn sót.

Một số lời khai còn mâu thuẫn nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ tại sao có sự mâu thuẫn của lời khai trước đó với lời khai sau, chưa làm rõ mâu thuẫn lời khai của các nhân chứng với nhau, lời khai nào là phù hợp?

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được xem xét tại cấp sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn H và bị hại Trần Thị Thanh N, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Căn cứ lời khai của bị hại, người liên quan và những người làm chứng gồm ông Phạm Văn B, chị Kpă H M, anh R Com D, anh Rơ Ô L1 (tại các bút lục 88, 89, 201, 202) đều xác nhận bị cáo H cầm theo một cây tre tươi và dùng cây này đánh bị hại Trần Thị Thanh N vào vùng đầu, tay, chân và nhiều vị trí khác trên cơ thể. Mặc dù lời khai của những người làm chứng có sự khác nhau khi mô tả kích thước chiều dài, đường kính của cây tre nhưng đây chỉ là sự khác biệt mang tính cảm quan, xuất phát từ vị trí quan sát, khoảng cách nhìn, điều kiện ánh sáng và khả năng ước lượng của từng người. Những người làm chứng không đo đạc hoặc kiểm tra chính xác kích thước cây tre ngay tại thời điểm xảy ra vụ việc. Các khác biệt trong lời khai về kích thước cây tre mà bị cáo sử dụng làm hung khí đánh bị hại không làm thay đổi bản chất sự việc được họ chứng kiến là: Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 25/11/2016, tại rẫy cà phê buôn E, xã C, huyện K, Đắk Lắk, bị cáo Trần Văn H có sử dụng cây tre tươi để đánh bị hại Trần Thị Thanh N.
  2. [2] Về vật chứng là một khúc tre tươi do bà H2 giao nộp vào ngày 02/12/2016 (Bút lục 18): Cảm nhận chủ quan của từng người làm chứng về cây tre tươi bị cáo sử dụng đánh bị hại có thể không hoàn toàn trùng khớp với vật chứng thu giữ nhưng điều này không làm thay đổi bản chất sự việc đã được chứng minh bằng lời khai nhất quán, khách quan của những người làm chứng như được phân tích tại mục [1].
  3. [3] Từ phân tích tại mục [1] và [2] có căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ đến 15 giờ ngày 25/11/2016, tại vườn rẫy ở buôn E, xã E, huyện K (nay là buôn E, xã C), do mâu thuẫn từ việc tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn giữa bị cáo Trần Văn H với bà Nguyễn Thị H2 và chị Trần Thị Thanh N (là con chung của bị cáo và bà H2) nên bị cáo H dùng cây tre tươi, được mô tả to cở ngón tay cái (đường kính từ 1,5cm-2cm), dài khoảng 01m-1,2m đánh chị N nhiều cái trúng đầu, hông, bụng, tay, chân, gây thương tích.
  4. [4] Theo kết luận giám định số 1308/PY-TgT ngày 29/11/2016 và giám định bổ sung số 06/PY-TgT ngày 05/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ thì thương tích của bị hại Trần Thị Thanh N là 14%. Trong đó, các vết thương phần nềm là 10; vết thương nứt chỏm xương bàn tay trái ngón V là 4%.
  5. [5] Xét nguyên nhân vụ việc bị cáo H đánh bị hại N gây thương tích vào ngày 25/11//2016 là do giữa H và vợ là bà Nguyễn Thị H2 đang xảy ra tranh chấp tài sản chung sau ly hôn, trong đó có rẫy cà phê đang vào mùa thu hoạch nhưng chưa giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Bị cáo H và bà H2 đã tự ý khai thác hoa màu cà phê mà không được sự thống nhất, đồng ý của bên còn lại nên nhiều lần xô sát ẩu đả lẫn nhau vào các ngày 24/10/2016, 23/11/2016, 25/11/2016, 26/11/2016.

Căn cứ Biên bản xác định lại hiện trường ngày 13/3/2017 và các Sơ đồ hiện trường khám nghiệm ngày 25 và 26/11/2016 thì vị trí xảy ra xô sát giữa bị cáo H, bà H2 và N là giữa đám rẫy còn đang tranh chấp giữa hai bên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H2 thừa nhận vị trí rẫy cà phê mà bà H2 thuê người vào hái và xảy ra tranh chấp với bị cáo H trong mùa thu hoạch năm 2016 đã được TAND thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết chia tài sản chung sau ly hôn cho bị cáo H nhưng bà H2 là người bỏ chi phí đầu tư, công sức chăm sóc từ năm 2015 nên bà H2 có quyền thu hoạch vụ mùa năm 2016. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm mà quá trình điều tra ở cấp sơ thẩm chưa chứng minh, làm rõ vị trí đất rẫy bà H2 và N thuê người khai thác cà phê vào ngày 25/11/2016 thuộc phần đất rẫy chia cho bị cáo H hay chia cho bà H2; vai trò của N trong việc tranh chấp rẫy cà phê giữa bà H2 và bị cáo H để làm rõ nguyên nhân và động cơ cho hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo H để đánh giá hành vi của bị cáo H có bị kích động hay kích động mạnh về tinh thần hay không.

Mặt khác, theo lời khai tại phiên tòa, bị hại N thừa nhận có lời nói, hành vi chửi mắng, xưng tao, gọi mày với bị cáo H; phù hợp với lời khai của những người làm chứng Kpă H M, Phạm Văn B xác định bị hại N chửi bị cáo H trước khi bị cáo H đánh N.

Do đó, chưa đủ căn cứ vững chắc kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.

  1. [6] Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
  2. [7] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo H và bị hại N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H, hủy bản án sơ thẩm số: 13/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vục 8 - Đắk Lắk để điều tra lại.
  2. [2] Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đắk Lắk để giải quyết theo thẩm quyền.
  3. [3] Người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND Khu vực 8;
  • - Phòng THADS Khu vực 8;
  • - VKSND Khu vực 8;
  • - Bị cáo; NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2026/HS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 22/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger