Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2026/DS-PT

Ngày: 12/01/2026

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Thủy

Ông Nguyễn Vĩnh Khương

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/01/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 446/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 778/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Địa chỉ: T, số A T, phường H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Công T; Văn bản ủy quyền ngày 19/12/2025; có mặt.

Bị đơn:

  1. Ông Hồng Chánh L; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Đỗ Thị Ngọc L1; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: A đường số A, KDC N, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hồng Chánh L: Ông Hồng Nhật H; địa chỉ: A đường số A, KDC N, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Chí T1; địa chỉ: D N, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
  2. Ông Hồng Nhật H; địa chỉ: A đường số A, KDC N, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

Người kháng cáo: Ông Hồng Chánh L, bà Đỗ Thị Ngọc L1.

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Đ trình bày:

Ngày 25/04/2019, Ngân hàng TMCP Đ ký kết với bà Đỗ Thị Ngọc L1 và ông Hồng Chánh L Hợp đồng tín dụng số 194/2019/9340913/HĐTD, cụ thể: Số tiền vay: 4.900.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua nhà và đất ở; Thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày ngày 25/04/2019 đến ngày 25/04/2039; Lãi suất vay hiện tại: 8,7%/năm. Bà Đỗ Thị Ngọc L1 đã nhận tiền vay theo Bảng kê rút vốn số 194/2019/9340913/HĐTD ngày 25/04/2019.

Ngày 07/05/2019, Ngân hàng TMCP Đ ký kết với bà Đỗ Thị Ngọc L1 và ông Hồng Chánh L Hợp đồng tín dụng số 202/2019/9340913/HĐTD, cụ thể: Số tiền vay: 1.600.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua đất ở; Thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày ngày 07/5/2019 đến ngày 09/5/2039; Lãi suất vay hiện tại: 8,7%/năm. Bà Đỗ Thị Ngọc L1 đã nhận tiền vay theo Bảng kê rút vốn số 202/2019/9340913/HĐTD ngày 07/5/2019.

Để đảm bảo cho các khoản vay, bà Đỗ Thị Ngọc L1 và ông Hồng Chánh L đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ Hợp đồng thế chấp Bất động sản số 002/2021/9423852/HĐBĐ ngày 27/10/2021 bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi của bà L1 và ông L với Ngân hàng. Tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC952541 – số vào số cấp GCN CH03877 do Ủy ban nhân dân quận C, TP . cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015:

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L1 và ông L đã vi phạm hợp đồng, không trả nợ theo thỏa thuận nên tòan bộ số nợ vay của bà L1 và ông L đã bị quá hạn. Ngân hàng TMCP Đ nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng bà L1 và ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã giao kết cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L1 và ông L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số nợ gốc là 5.149.570.594 đồng và tiền lãi theo hợp đồng đã ký giữa các bên từ khi ngừng thanh toán cho đến khi tất nợ. Trường hợp bà L1 và ông L không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Ông Hồng Nhật H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Hồng Chánh L trình bày: Ông thống nhất với hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp mà cha mẹ ông là ông L và bà L1 đã ký, cha mẹ ông cũng tìm nhiều phương án để thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng

2

do vướng hợp đồng đặt cọc (hợp đồng giả cách) giữa cha mẹ ông với ông T1 nên không tự bán tài sản để thanh toán nợ cho Ngân hàng được. Cha mẹ ông cũng đã khởi kiện ông T1 để yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng đặt cọc với ông T1 và đã được Tòa án các cấp giải quyết nhưng cha mẹ ông không đồng ý với kết quả của bản án. Ông đề nghị Tòa án triệu tập ông T1 để tham gia trong vụ kiện này.

Ông Võ Chí T1 đã được Tòa án triệu tập tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong đơn xin vắng mặt đề ngày 01/8/2025, ông T1 trình bày ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 đã vi phạm thỏa thuận hợp đồng đặt cọc, số công chứng 3376, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2022. Đồng thời, do bận công việc nên ông không thể tham gia vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Hồng Nhật H trình bày: Ông thống nhất với trình bày của đại diện Ngân hàng về Hợp đồng mà ông L, bà L1 đã ký với Ngân hàng, thống nhất với số tiền gốc, lãi mà ông L và bà L1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng tuy nhiên do ông L hiện nay đang bị bệnh hiểm nghèo không có khả năng trả nợ nên đề nghị cho ông L và bà L1 được trả tiền nợ gốc, Ngân hàng miễn giảm tiền lãi cho ông L và bà L1, đồng thời cho thời gian 06 tháng để ông L, bà L1 thanh toán nợ để lấy lại tài sản thế chấp. Bên cạnh đó, do tài sản thế chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc – hợp đồng giả cách giưa ông L, bà L1 với ông T1 nên ông L, bà L1 không tự giải quyết được nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ:

    Buộc ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 6.197.998.201 đồng (Sáu tỷ một trăm chín mươi bảy triệu chín trăm chín mươi tám nghìn hai trăm linh một đồng), trong đó nợ gốc là 5.149.570.594 đồng (Năm tỷ một trăm bốn mươi chín triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm trăm chín mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn là 1.017.626.064 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu sáu trăm hai mươi sáu nghín không trăm sáu mươi tư đồng), lãi quá hạn là 30.801.543 đồng (Ba mươi triệu tám trăm linh một nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng) và lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên từ ngày 07/8/2025 đến khi thanh toán hết nợ.

    Trường hợp ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 không thanh toán, thanh toán không đầy đủ các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 002/2021/9423852/HĐBĐ ngày 27/10/2021 để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1137, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại địa chỉ Công ty N (Lô H), phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 952541, số vào sổ cấp GCN CH 03877 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015:

3

quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015.

  1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên ông Hồng Chánh L, bà Đỗ Thị Ngọc L1 đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Công T trình bày: Ngân hàng vẫn yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả vốn và lãi cho ngân hàng. Trường hợp bị đơn không trả thì đề nghị được xử lý tài sản thế chấp. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm.

Phía bị đơn ông Hồng Chánh L, bà Đỗ Thị Ngọc L1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo:

Xét kháng cáo của người kháng cáo bị đơn ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 nhận thấy:

Theo hồ sơ thể hiện giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Hồng Chánh L, bà Đỗ Thị Ngọc L1 ký Hợp đồng tín dụng số 194/2019/9340913/HĐTD cùng Bảng kê rút vốn số 194/2019/9340913/HĐTD ký ngày 25/04/2019; theo đó, Ngân hàng TMCP Đ cho ông L và bà L1 vay số tiền 4.900.000.000đồng, thời hạn vay 240 tháng; Hợp đồng tín dụng số 202/2019/9340913/HĐTD; Bảng kê rút vốn số 202/2019/9340913/HĐTD ký ngày 07/5/2019, hợp đồng thế chấp bất động sản số 002/2021/9423852/HĐBĐ ngày 27/10/2021/2021, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 1137, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại địa chỉ Công ty N (Lô H), phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 952541, số vào sổ cấp GCN CH 03877 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015 theo đó, Ngân hàng TMCP Đ cho ông L và bà L1 vay số tiền 1.600.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng với mục đích mua nhà và đất ở.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận dù đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Đối với yêu cầu của nguyên đơn bị đơn cũng thống nhất chỉ cho rằng do vướng hợp đồng đặt cọc với người liên quan nên không giao tài sản thế chấp được là không có căn cứ. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng được quyền chấm dứt cho vay và thu hồi các khoản nợ trên. Trường hợp bị đơn không thanh toán thì nguyên đơn được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở.

4

Đối với hợp đồng đặt cọc với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không liên quan đến hợp đồng tín dụng này. Đồng thời, trong vụ án bị đơn không có yêu cầu phản tố, về hợp đồng đặt cọc giữa bị đơn và người liên quan Võ Chí T1 đã được Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm giải quyết thành vụ án riêng, đồng thời ông T1 trong bản tự khai cũng cho biết đang chuẩn bị hồ sơ để khởi kiện bị đơn thành vụ kiện khác. Do đó yêu cầu kháng cáo về sửa án sơ thẩm của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Đối với yêu cầu giảm lãi suất, do bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh và cũng không được nguyên đơn thống nhất nên kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai hoặc có đơn xin xét xứ vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.
  2. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Ngân hàng TMCP Đ và ông Hồng Chánh L, bà Đỗ Thị Ngọc L1 ký Hợp đồng tín dụng số 194/2019/9340913/HĐTD cùng Bảng kê rút vốn số 194/2019/9340913/HĐTD ký ngày 25/04/2019; theo đó, Ngân hàng TMCP Đ cho ông L và bà L1 vay số tiền 4.900.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng; Hợp đồng tín dụng số 202/2019/9340913/HĐTD, Bảng kê rút vốn số 202/2019/9340913/HĐTD ký ngày 07/5/2019, theo đó, Ngân hàng TMCP Đ cho ông L và bà L1 vay số tiền 1.600.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng với mục đích mua nhà và đất ở. Quá trình vay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận nên bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ. Phía bị đơn ông L, bà L1 thừa nhận số nợ trên và xin trả chậm.

    Qua xem xét Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Ông L và bà L1 có vay của Ngân hàng số tiền trên là đúng sự thật thể hiện qua các chứng cứ của ngân hàng cung cấp và lời thừa nhận của bị đơn. Căn cứ theo Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên đây là tình tiết không phải chứng minh. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả nợ là có căn cứ.

    Xét tài sản thế chấp: Bị đơn có thế chấp bất động sản số 002/2021/9423852/HĐBĐ ngày 27/10/2021/2021, tài sản thế chấp là Quyền sử

5

dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 1137, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại địa chỉ Công ty N (Lô H), phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 952541, số vào sổ cấp GCN CH 03877 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015.

Xét căn nhà thế nhà nhận thấy: Theo Bản án số 351/2024/DSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều và Bản án dân sự phúc thẩm số 167/2025/DSPT ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Mặc dù căn nhà này đã thế chấp cho Ngân hàng nhưng bị đơn lại có hợp đồng đặt cọc với ông Võ Chí T1. Ông T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông L, bà L1; đồng thời xác định không tham gia trong vụ án này và làm thủ tục kiện ông L và bà L1 đến Tòa tranh chấp hợp đồng đã ký giữa ông T1 với ông L, bà L1. Ông T1 cũng không kháng cáo bản án sơ thẩm nên không xem xét.

Do đó, Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu trong trường hợp ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở.

Đối với ý kiến của ông H về việc đề nghị Ngân hàng TMCP Đ miễn giảm lãi và cho ông L, bà L1 thời gian 06 tháng để thanh toán nợ và giải chấp tài sản. Nguyên đơn không đồng ý với đề nghị của phía bị đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Xét về tiền lãi: Theo bảng tính lãi của Ngân hàng TMCP Đ thể hiện: tính đến ngày 06/8/2025, ông L và bà L1 còn nợ tổng số tiền gốc và lãi là 6.197.998.201 đồng, trong đó nợ gốc là 5.149.570.594 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.017.626.064 đồng, lãi quá hạn là 30.801.543 đồng. Mức lãi suất áp dụng, cách tính lãi phù hợp với thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng quy định.

  1. [3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp nên
  2. [4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 phải chịu. Ngân hàng TMCP Đ đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng đồng).
  3. [5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ được chấp nhận nên ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ. Tuy nhiên, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông L và bà L1 đều đã trên 60 tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên Tòa án cấp sơ thẩm đã miễn là phù hợp. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Đ.
  4. [6]Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn được miễn do là người cao tuổi.
6
  1. [7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 40, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồng Chánh L bà Đỗ Thị Mỹ L2. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ: Buộc ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 6.197.998.201 đồng (Sáu tỷ một trăm chín mươi bảy triệu chín trăm chín mươi tám nghìn hai trăm linh một đồng), trong đó nợ gốc là 5.149.570.594 đồng (Năm tỷ một trăm bốn mươi chín triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm trăm chín mươi tư đồng), nợ lãi trong hạn là 1.017.626.064 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu sáu trăm hai mươi sáu nghín không trăm sáu mươi tư đồng), lãi quá hạn là 30.801.543 đồng (Ba mươi triệu tám trăm linh một nghìn năm trăm bốn mươi ba đồng) và lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên từ ngày 07/8/2025 đến khi thanh toán hết nợ.

    Trường hợp ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 không thanh toán, thanh toán không đầy đủ các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 002/2021/9423852/HĐBĐ ngày 27/10/2021 để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1137, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại địa chỉ Công ty N (Lô H), phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 952541, số vào sổ cấp GCN CH 03877 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 ngày 23/12/2015.

7
  1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Hồng Chánh L và bà Đỗ Thị Ngọc L1. H1 lại cho Ngân hàng TMCP Đ 56.894.000 đồng (Năm mươi sáu triệu tám trăm chín mươi tư nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000881 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Cần Thơ).
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông L, bà L1 được miễn do là người cao tuổi.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND KV 1 - Cần Thơ;
  • - Phòng THADS KV 1 – Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành viên Hội đồng xét xử

Nguyễn Vĩnh Khương - Đào Thị Thủy

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Hải

8
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP B kiện ông Hồng Chánh L đòi nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger