|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 216/2025/DS-PT Ngày: 22 - 12 - 2025 “V/v tranh chấp lối đi chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng
Ông Nguyễn Ngọc Chung
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/12/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 290/2025/TLPT- DS ngày 27/10/2025 về việc “Tranh chấp lối đi chung” do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 124/2025/QĐ-PT ngày 25/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2025/QĐ-PT ngày 08/12/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (vắng mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 (theo văn bản ủy quyền lập ngày 18/10/2023, anh Q - có mặt).
- Đều có địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh
- * Bị đơn:
- - Anh Lê Văn T, sinh năm 1970 (có mặt)
- - Chị Giáp Thị G, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- - Anh Phan Minh H1, sinh năm 1981 (có mặt)
- - Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Đều có địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh;
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cụ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1930 (vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 (có mặt)
- - Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của anh T3 là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 (Giấy ủy quyền lập ngày 28/10/2025, anh Q - có mặt).
- - Anh Lê Văn T4, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- - Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- - Cháu Lê Thị Ngọc H2, sinh năm 2010 (vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của cháu H2: Anh Lê Văn T, sinh năm 1970 và chị Giáp Thị G, sinh năm 1976 (anh T có mặt, chị G vắng mặt)
- Đều có địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- - Bà Chu Thị H3, sinh năm 1944 (vắng mặt)
- - Cháu Phan Minh T5, sinh năm 2006 (vắng mặt)
- - Cháu Phan Minh T6, sinh năm 2011 (vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của cháu T6: Anh Phan Minh H1, sinh năm 1981 và chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (anh H1 có mặt, chị T1 vắng mặt)
- Đều có địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- - UBND xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, do ông Phạm Văn H4 - công chức địa chính xã V đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền lập ngày 10/4/2025);
- UBND huyện T, tỉnh Bắc Giang, do ông Nguyễn Văn Đ - Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện T đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 07/5/2025).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh, do ông Đỗ Đình B - Phó Trưởng phòng Kinh tế xã T đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền lập ngày 17/7/2025 - vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Lê Anh T7 là đơn và anh Lê Văn T8 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa.
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Hộ gia đình bà được UBND huyện T công nhận quyền sử dụng đất diện tích 924,1 m², tại thửa 468, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất thôn E, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số 815722 ngày 07/10/2003, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ1 (ông Đ1 là chồng bà, chết năm 2015). Thửa đất của gia đình bà ở phía trong, lối đi ra đường quốc lộ 17 là lối đi chung, hiện có 02 gia đình anh Lê Văn T, anh Phan Minh H1 sử dụng diện tích đất liền kề với lối đi chung. Trong quá trình sử dụng đất, 02 gia đình anh T, anh H1 đã xây dựng công trình lấn vào đường đi chung cụ thể:
Gia đình anh T đã xây dựng công trình phụ lấn vào đường đi chung có kích thước chiều rộng 0,7 m, chiều dài 18 m, diện tích khoảng 6,1 m²; gia đình anh H1 xây dựng nhà 03 tầng đã lấn vào đường đi chung có kích thước chiều rộng 0,3 m, chiều dài 23 m, diện tích 3,5 m², làm mái vẩy lấn ra đường đi chung có kích thước chiều rộng 25 cm, chiều dài 10 m, diện tích 2,5 m². Việc gia đình anh T, gia đình anh H1 xây dựng công trình lấn vào đường đi chung làm ảnh hưởng đến việc đi lại của gia đình bà. Nay bà đề nghị vợ chồng anh Lê Văn T, chị Giáp Thị G phải tháo dỡ công trình phụ để trả lại diện tích 6,1 m²; vợ chồng anh Phan Minh H1, chị Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ một phần nhà ở và một phần mái vẩy để trả lại diện tích 6 m² đường đi chung.
Tại đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 19/5/2025, bà H đề nghị: Yêu cầu vợ chồng anh Lê Văn T, chị Giáp Thị G phải tháo dỡ công trình phụ và nhà ở để trả lại tổng diện tích đất 11,8 m² đường đi chung; vợ chồng anh Phan Minh H1, chị Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ công trình để trả lại diện tích 3,2 m² đường đi chung.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H vắng mặt và ủy quyền cho anh Nguyễn Văn Q. Với tư cách người đại diện theo ủy quyền của bà H và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Q trình bày:
Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, anh xác định thửa đất mà gia đình anh đang sử dụng là thửa số 168, tờ bản đồ số 25, nhưng trong GCNQSDĐ lại ghi là thửa 468. Tuy nhiên, bà H chỉ yêu cầu gia đình anh T, anh H1 tháo dỡ công trình để trả lại lối đi chung, không liên quan đến diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình anh nên anh không đề nghị xem xét đối với GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình anh. Khi nào có yêu cầu thì anh sẽ đề nghị cơ quan có thẩm quyền đính chính theo quy định.
Hiện trạng thửa đất của gia đình anh H1 sử dụng là 190,6 m², nhưng diện tích được cấp GCNQSDĐ của gia đình anh H1 đo đạc năm 2002 là 177,5 m², các điểm của thửa đất theo bản đồ năm 2002 khác với các điểm theo hiện trạng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vị trí diện tích đất tăng của gia đình anh H1 và yêu cầu vợ chồng anh H1 phải tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất 6 m² lối đi chung.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn anh Lê Văn T trình bày:
Anh và gia đình bà H, anh H1 là hàng xóm với nhau. Gia đình anh đang quản lý, sử dụng thửa đất số 154 tờ bản đồ số 25, tổng diện tích 1.410,5m² tại thôn C, xã V. Nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ anh (ông Lê Văn Đ2, bà Đỗ Thị C) sử dụng ổn định từ năm 1969, trước đây trên đất có nhà ở và công trình phụ của bố mẹ anh. Bố mẹ anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh không biết là cấp năm nào. Ông Đ2 chết năm 2005, bà C chết năm 2023, đều không để lại di chúc. Bố mẹ anh sinh được 05 người con trong đó có 02 con trai là anh và em trai Lê Văn T9, trước khi chết thì bố mẹ anh đã tách đất cho 02 anh em và tặng cho anh Đỗ Văn T10 mỗi người một phần đất nhưng anh không nhớ có lập văn bản gì không. Sau khi tách đất thì bố anh mang bản gốc GCNQSDĐ đến UBND xã V nộp cho ông Phan Đức T11 - cán bộ địa chính xã thời đó để làm thủ tục tách đất cho các con nhưng từ đó đến nay anh không được cấp GCNQSDĐ mới và cũng không biết thủ tục tách đất đã xong chưa. Anh đã đến UBND xã đề nghị kiểm tra hồ sơ nhưng chưa có kết quả, hiện anh không biết GCNQSDĐ gốc của bố anh ở đâu và cũng không biết phần đất anh đang ở đã được cấp GCNQSDĐ mới chưa, cấp thời điểm nào. Qua tra cứu sổ địa chính ở xã, anh chỉ biết là đất chia cho anh T9 là thửa 154a, tờ bản đồ 25, diện tích 260m²; đất vợ chồng anh đang ở là thửa 154b, tờ 25, diện tích 339,5m²; phần đất của anh T11 là thửa 154d, tờ 25, diện tích 100m²; phần đất còn lại của bố mẹ anh là thửa 154c, tờ 25, diện tích 711m²; giấy chứng nhận của anh T11 đã được cấp năm 2003.
Tại vị trí đất anh đang ở trước đây có nhà ở và công trình phụ của bố mẹ anh xây khoảng năm 1970 - 1980, đã đổ nát hết. Năm 2000 anh làm nhà trần 2,5 tầng, đến năm 2001 - 2002 thì làm công trình phụ gồm nhà bếp, nhà tắm, nhà chăn nuôi như hiện nay.
Đối với con đường đi mà bà H đang tranh chấp với gia đình anh và gia đình anh H1, từ khi anh còn nhỏ thì gia đình anh đã sử dụng đường đi này để làm lối vào nhà (lúc đó nhà bố mẹ anh hướng ra con đường này chứ không hướng ra đường tỉnh lộ). So với con đường theo bản đồ năm 2003 thì con đường ban đầu chỉ dài bằng một nửa, phần còn lại là vườn và sân giếng nhà anh (anh đã lấp giếng và đổ đất lên nhưng nay vẫn còn nền sân giếng bên dưới lớp đất). Trước năm 1987 thì gia đình bà H, ông Đ1 ở bên trong đi qua đất nhà cụ Trần Văn N là bố ông Đ1 (cụ N nay đã chết). Sau đó, do cụ N và ông Đ1 mâu thuẫn nên cụ N rào lối đi lại, vợ chồng bà H, ông Đ1 có xin bố mẹ anh cho đi nhờ qua lối đi vào vườn nhà anh, bố mẹ anh đồng ý cho đi nhờ nhưng không cho đất và không xác định là đường đi chung. Sau khi bà H có đơn tranh chấp lối đi, anh được tiếp cận bản đồ địa chính năm 2003 thì mới biết trên bản đồ có thể hiện con đường đi vào đất bà H. Thời điểm năm 2003 khi đo đạc bản đồ thì anh không được dẫn đạc, không được ký giáp ranh cũng như xác định con đường đi này. Khi đó bố anh vẫn còn sống, anh không biết bố anh có ký thủ tục gì hay không. Ranh giới giữa đất nhà anh với con đường là tường nhà ở xây năm 2000 và dãy công trình phụ xây năm 2001 - 2002. Trước đây con đường chỉ rộng 1,5m, do đường cong mà khi xây nhà anh xây tường thẳng nên có đoạn đường rộng 1,7-1,8m, còn đoạn đường giáp công trình phụ thì rộng 1,5m đúng ranh giới từ xưa đến nay. Từ trước đến nay giữa gia đình bà H với gia đình anh không có tranh chấp gì về lối đi hay ranh giới đất đai. Phía anh H1 ở đối diện con đường, khi anh H1 làm nhà năm 2022 thì có gọi anh và anh Q (con bà H) ra thống nhất ranh giới với đường đi để làm, cả 3 bên nhất trí không tranh chấp gì. Gần đây bà H và anh Q lại có ý kiến là lối đi phải rộng 2m và cho rằng gia đình anh xây công trình phụ lấn chiếm lối đi.
Nay anh xác định nhà ở và dãy công trình phụ của gia đình anh xây dựng trước khi có bản đồ năm 2003, xây dựng đúng theo ranh giới với con đường từ trước đến nay, không lấn chiếm đường đi trên. Bà H yêu cầu anh tháo dỡ một phần nhà bếp và công trình phụ để trả lại 6,1m² đường đi, anh không đồng ý.
Với tư cách đại diện theo pháp luật của cháu H2, anh T giữ nguyên nội dung đã trình bày.
* Tại bản tự khai và những lời khai tiếp theo bị đơn anh Phan Minh H1 trình bày: Gia đình anh đang quản lý, sử dụng thửa đất số 169 tờ bản đồ số 25 diện tích 177,5m² tại thôn C, xã V. Nguồn gốc thửa đất là một phần đất ông cha để lại, anh chỉ biết ông bà nội anh đã sinh sống trên đất này từ trước những năm 1960. Bố mẹ anh sinh được 07 người con trong đó có 05 con trai, trước đây đất của bố mẹ anh bao gồm cả các thửa 184, 185, 186, 202 ở liền kề, trên đất có nhà ở và công trình phụ của bố mẹ anh. Khi anh và các anh em trai trưởng thành lập gia đình thì được bố mẹ chia đất cho làm nhà ở riêng, trong đó anh được bố mẹ tặng cho diện tích tại thửa 169 nêu trên. Thửa đất ban đầu đã được cấp GCNQSDĐ cho bố mẹ anh nhưng anh không biết cấp năm nào. Sau khi được bố mẹ tặng cho đất thì đến ngày 10/10/2011, anh được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 169, tờ bản đồ 25, diện tích 177,5m² trong đó có 36m² đất thuộc quy hoạch hành lang giao thông.
Tại vị trí đất anh đang ở trước đây có nhà trần của bố mẹ anh xây dựng năm 2001, đến năm 2022 do nhà đã cũ nên anh phá đi làm lại nhà mới 3 tầng và lán để xe phía trước (bán mái lợp tôn) trên nền nhà cũ của bố mẹ và xây đúng ranh giới đất theo giấy chứng nhận đã cấp.
Đối với con đường đi mà bà H đang tranh chấp với gia đình anh và gia đình anh T: từ khi anh còn nhỏ đã thấy gia đình ông Đ2 (bố anh T) sử dụng làm đường đi ra đường tỉnh lộ (đất nhà ông Đ2 giáp tỉnh lộ nhưng trước đây nhà ông Đ2 ở phía trong, cửa nhà hướng sang phía đất nhà anh nên ông Đ2 đi theo đường này chứ không đi thẳng ra tỉnh lộ). Ngoài nhà ông Đ2 thì có nhà bà H ở phía sau cũng sử dụng đường này để đi ra tỉnh lộ, nhưng anh nghe người làng nói thì trước đây bà H đi nhờ qua đất nhà cụ N là bố chồng bà H ở bên cạnh, sau đó do mâu thuẫn, cụ N rào lối đi nên bà H phải đi nhờ qua đất ông Đ2. Ranh giới giữa đất nhà anh với con đường là bức tường xây bằng cay xỉ kéo dọc theo con đường, do bố anh xây khoảng năm 1990, đến năm 2022 anh xây nhà mới phá tường này đi. Trước đây con đường rộng bao nhiêu anh không nhớ, sau này khi ông Đ2 chia đất cho anh T và anh T làm nhà cùng công trình phụ giáp đường đi thì có để lại đường đi rộng 1,5m. Từ trước đến nay giữa nhà bà H, anh T và nhà anh không có tranh chấp gì về lối đi hay ranh giới đất đai. Khi anh làm nhà năm 2022 thì có gọi anh T và anh Q ra thống nhất ranh giới với đường đi để làm, cả 3 bên nhất trí không tranh chấp gì nên anh mới làm. Gần đây bà H và anh Q có ý kiến là lối đi phải rộng 2m và cho rằng gia đình anh xây công trình lấn chiếm.
Nay anh xác định các công trình nhà ở và lán của gia đình anh xây là đúng ranh giới theo GCNQSDĐ mà anh đã được cấp, không lấn chiếm đường đi. Bà H yêu cầu anh tháo dỡ một phần nhà ở và lán để trả lại 6m² đường đi, anh không đồng ý.
Với tư cách đại diện theo pháp luật của cháu Phan Minh T6, anh H1 vẫn giữ nguyên trình bày trên.
* Tại bản tự khai ngày 03/02/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T3 trình bày:
Anh là con của ông Đ1, bà H. Năm 2003, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ tại thửa 468, tờ bản đồ số 25, diện tích 924,1 m² cho hộ ông Đ1. Tại thời điểm cấp GCN anh là thành viên hộ gia đình. Nay anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Cụ Nguyễn Thị T2 trình bày: Cụ đồng ý với ý kiến của bà H, anh Q trong vụ án. Nay cụ ủy quyền cho anh Q để trình bày ý kiến tại phiên tòa. Với tư cách đại diện theo ủy quyền, anh Q vẫn giữ nguyên trình bày trên.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị H3 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất mà vợ chồng anh H1 đang sử dụng là của vợ chồng bà, sau đó tách cho anh H1. Năm 2001 vợ chồng bà làm nhà trần giáp lối đi, năm 2022 anh H1 phá nhà trần đi để làm nhà mới trên đúng móng nhà cũ. Khi xây nhà thì anh H1 có gọi anh Q, anh T chứng kiến thống nhất ranh giới. Nay bà xác định gia đình bà không lấn vào lối đi, do đó bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2025, chị Nguyễn Thị T1, cháu Phan Minh T5, cháu Phan Minh T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Đồng ý với trình bày của anh Phan Minh H1 về nguồn gốc đất, quá trình xây dựng công trình. Nay chị T1, cháu T5, cháu T6 đều không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Tại bản tự khai ngày 14/5/2025, chị Giáp Thị G là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của anh T, khi về chung sống cùng anh T thì chị được bố mẹ chồng nói lại là lối đi trên là lối đi riêng của gia đình chồng chị, gia đình bà H đi nhờ trên lối đi đó. Nay chị nhất trí với toàn bộ ý kiến của anh T. Chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Tại bản tự khai ngày 14/5/2025, cháu Lê Văn T4, cháu Lê Thị Ngọc Á là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày: Các cháu là con của anh T, chị G, về nguồn gốc đất, lối đi thì các cháu không nắm được. Nay các cháu đồng ý với ý kiến của anh T. Các cháu không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
* Đại diện UBND xã V và đại diện UBND huyện T đều trình bày: Qua tra cứu Sổ địa chính xã V năm 1999, tại trang 8 thể hiện chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn Đ1 được công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 304, tờ bản đồ số 7, diện tích 384m² đất ở lâu dài tại thôn C, xã V theo Quyết định số 241 ngày 02/11/1999, vào sổ cấp GCN số 02549. Năm 2002 đo đạc bản đồ địa chính, năm 2003 hộ ông Đ1 được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ tại thửa 468, tờ bản đồ số 25, diện tích 924,1 m², địa chỉ thửa đất thôn C, xã V, huyện T.
Tại trang 9 thể hiện chủ sử dụng đất bà Đỗ Thị C (bà C là vợ ông Lê Văn Đ2) được công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 307, tờ bản đồ số 3, diện tích 480m² đất thổ cư, thời hạn sử dụng lâu dài tại thôn C, xã V. Năm 2002 đo đạc bản đồ địa chính thể hiện tại thửa số 154, tờ bản đồ 25, diện tích 1.410,5 m², năm 2003 cấp GCNQSDĐ thì thửa đất trên đã tách cho các con và hộ ông Đỗ Văn T10 cụ thể: Hộ ông Lê Văn T9 thửa 154a, tờ bản đồ số 25, diện tích 260 m²; hộ ông Lê Văn T thửa 154b, tờ bản đồ số 25, diện tích 339,5 m²; hộ ông Lê Văn Đ2 thửa 154c, tờ bản đồ số 25, diện tích 711 m²; hộ ông Đỗ Văn T10 thửa 154d, tờ bản đồ số 25, diện tích 100 m².
Tại trang số 102 thể hiện chủ sử dụng đất Phan Văn T12 được công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 12, tờ bản đồ số 1, diện tích 156m² đất ở lâu dài tại thôn E (Cầu C) theo Quyết định số 241 ngày 02/11/1999, vào sổ cấp GCN số 02568. Năm 2011 một phần thửa đất trên được tặng cho anh Phan Minh H1 đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ tại thửa 169, tờ bản đồ số 25, diện tích 177,5 m².
Đối chiếu các tờ bản đồ số 1, số 3, số 7 bản đồ địa chính xã V đo đạc năm 1999 thì thấy thông tin số thửa, số tờ bản đồ của các thửa đất trên được ghi chép trong sổ địa chính không đúng với vị trí thửa đất trên bản đồ và trên thực tế. Năm 2002, xã V đo đạc lại bản đồ địa chính và cấp đổi GCN cho các hộ dân trong xã.
* Kế thừa quyền, nghĩa vụ của UBND xã V và UBND huyện T, UBND xã T do ông Đỗ Đình B đại diện theo ủy quyền nhất trí với trình bày trên và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại biên bản làm việc ngày 14/5/2005, ông Phan Đức T11 - Nguyên cán bộ địa chính xã V xác định: Năm 2002 - 2003 ông trực tiếp tham gia công tác đo đạc, lập hồ sơ địa chính và tham mưu cấp GCN đồng loạt cho các hộ dân trên toàn xã V, trong đó có hộ ông Đ1, ông Đ2, ông T12 ở thôn C. Về nguồn gốc đất của các hộ: Hộ ông T12 là đất thổ cư cũ của cha ông để lại, hộ ông Đ2 là đất của Hạt giao thông sử dụng trước những năm 1970, khi Hạt giao thông đặt trụ sở thì hộ ông Đ2 ở phía trong. Khoảng những năm 1970 thì Hạt giao thông chuyển đi, ông Đ2 ra ở tại đất của Hạt giao thông, còn đất cũ của ông Đ2 thì bàn giao cho ông Đ1.
Lối đi đang tranh chấp có từ khi ông Đ2 còn ở trên thửa đất cũ. Khi đó nhà ông Đ2 đi qua lối đi đó, qua Hạt giao thông để đi ra đường. Sau khi bán đất cho ông Đ1 thì cả gia đình ông Đ2, gia đình ông Đ1 đi qua lối đi này. Ban đầu lối đi rộng gần 3 m, ô tô có thể đi qua được. Năm 2002 khi đo đạc bản đồ địa chính thì có thể hiện con đường này trên bản đồ. Khi đó các hộ gồm ông Đ2, ông Đ1, ông T12 và ông T13 đều được dẫn đạc, xác định mốc giới, ông là cán bộ địa chính có lập biên bản xác định mốc giới của từng thửa đất và cho đại diện các hộ ký giáp ranh. Lối đi được thể hiện trên bản đồ, khi đó không có hộ nào có ý kiến phản đối gì. Hộ ông Đ2 khi đo đạc cũng xác định đây là lối đi, chứ không xác định là thổ cư của hộ.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện lối đi đang tranh chấp có vị trí tứ cận gồm phía Đông giáp Quốc lộ A, phía Tây giáp thửa đất hộ bà H, phía Bắc giáp thửa đất của hộ anh T (giáp với tường nhà ở và công trình phụ của hộ anh T), phía Nam giáp với thửa đất của anh H1 (giáp với tường nhà và kiốt trước nhà). Vị trí đất đang có tranh chấp có các tài sản do gia đình anh T, gia đình anh H1 xây dựng.
* Kết quả đo đạc chồng áp bản đồ của Công ty TNHH một thành viên K thể hiện các vị trí chồng lấn giữa bản đồ đo đạc năm 2002 với hiện trạng và có sơ đồ kèm theo.
Tại phiên tòa, đại diện Công ty K có mặt và xác định: Căn cứ để Công ty chồng áp bản đồ là bản đồ xã V đo đạc năm 2002, đã được số hóa. Kết quả chồng áp xác định diện tích đất của hộ anh H1 tăng là do đo bao cả hành lang đường giao thông.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Hoàng Đức A trình bày quan điểm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với những nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2025; Các Điều 26, 29, 31 của Luật đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H:
Xác nhận diện tích đất 10,5m² gồm các điểm A, D, E, F, 42, 41, 40, 39, 38, 37 địa chỉ đất thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh thuộc lối đi chung.
Buộc anh Lê Văn T, chị Giáp Thị G và những người có quyền lợi liên quan cháu Lê Văn T4, cháu Lê Thị Ngọc Á, cháu Lê Thị Ngọc H2 phải trả lại diện tích đất 10,5m² gồm các điểm A, D, E, F, 42, 41, 40, 39, 38, 37 địa chỉ đất thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh làm lối đi chung. (có sơ đồ kèm theo).
Buộc anh Lê Văn T, chị Giáp Thị G và những người có quyền lợi liên quan cháu Lê Văn T4, cháu Lê Thị Ngọc Á, cháu Lê Thị Ngọc H2 phải tháo dỡ các công trình gồm: Một phần nhà bếp và công trình phụ lợp prôximăng có diện tích 8,2m² được giới hạn bởi các điểm C, D, E, F, 42, 41, 40, 39, 38 (trong đó: đoạn CD dài 4,47m; đoạn DE dài 7,41m; đoạn EF dài 1,1m; đoạn F-42 dài 0,6m; đoạn 42 - 41 dài 0,4m; đoạn 41 - 40 dài 1,76m; đoạn 40 - 39 dài 7,29m; đoạn 39 - 38 dài 4,74m; đoạn C - 38 dài 0,55m); 02 ống dẫn nước thải tầng 2 (của nhà ở 02 tầng) có chiều rộng nhô ra lối đi là 40 cm. (có sơ đồ kèm theo).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc anh Phan Minh H1, chị Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ một phần nhà ở kiên cố và một phần lán để trả lại diện tích 6 m² lối đi chung.
Ngoài ra bản án còn buộc các đương phải chịu chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo, quyền thi hành án cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm.
Ngày 20/8/2025, bị đơn anh Lê Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
Ngày 21/8/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc anh Phan Minh H1, chị Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ một phần nhà ở kiên cố và một phần lán để trả lại diện tích 6 m² lối đi chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chưa chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 08/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
Anh Lê Văn T và anh Nguyễn Văn T3 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[2]. Đơn kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 nộp trong thời hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo, HĐXX thấy:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết về tranh chấp lối đi chung theo quy định của pháp luật về đất đai, bị đơn có nơi thường trú tại thôn C, xã T. Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Thửa đất của gia đình bà Nguyễn Thị H bị vây bọc bởi các bất động sản khác, lối đi đang tranh chấp là lối đi duy nhất từ vị trí thửa đất của gia đình bà H ra đường Q và là lối đi chung của các hộ, bà H đề nghị gia đình anh T, gia đình anh H1 phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất lối đi chung.
Anh T7 xác định lối đi trên là lối đi riêng của gia đình anh, không phải là lối đi chung, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Anh H1 xác định thửa đất của gia đình anh có nguồn gốc của ông cha để lại, năm 2022 gia đình anh tháo dỡ công trình cũ để xây dựng nhà ở 03 tầng và mái vẩy, khi xây dựng công trình anh có báo với anh Q, anh T7 đến chứng kiến và anh xây dựng theo đúng vị trí các công trình cũ đã tháo dỡ, anh xác định không lấn vào lối đi chung.
Quá trình giải quyết vụ án UBND xã V thể hiện quan điểm:
Thửa đất của hộ ông Đ1 được cấp được cấp GCN lần đầu năm 1999 tại thửa 304, tờ bản đồ số 7, ông T12 được cấp GCN lần đầu năm 1999 tại thửa số 12, tờ bản đồ số 1, bà C (vợ ông Đ2) được cấp GCN lần đầu năm 1999 tại thửa 307, tờ bản đồ số 3. Đối chiếu với các tờ bản đồ số 1, 3, 7 bản đồ địa chính xã V đo đạc năm 1999 thì thông tin số thửa, tờ bản đồ của các thửa đất trên được ghi chép trong sổ địa chính không đúng với vị trí thửa đất trên bản đồ và trên thực tế. Năm 2002 đo đạc lại bản đồ địa chính xã V, các thửa đất được thể hiện hộ ông Đ1 được sử dụng thửa 168, tờ bản đồ 25, diện tích 924,1 m², hộ ông Đ2 sử dụng thửa 154, tờ bản đồ số 25, diện tích 1410,5 m², hộ ông T12 sử dụng thửa 169, tờ bản đồ số 25, diện tích 177,5 m². Bản đồ đo đạc năm 2002 thể hiện lối đi vào thửa đất 168 của hộ bà H, ông Đ1 ở vị trí lối đi đang tranh chấp như hiện nay. Khi đo đạc, UBND xã V đã lập biên bản xác định ranh giới, mốc giới của từng thửa đất có ông Đ1, ông Đ2, ông T12 là đại diện 03 hộ ký giáp ranh.
Sau đo đạc bản đồ năm 2002, hộ ông Đ1 được cấp GCN năm 2003 tại thửa 468, tờ bản đồ số 25, diện tích 924,1 m²; anh H1 được cấp GCN năm 2011, tại thửa 169, tờ bản đồ 25, diện tích 177,5 m² cấp do nhận tặng cho; năm 2003 anh T7 được cấp GCN tại thửa 154b, tờ bản đồ số 25, diện tích 339,5 m² tách từ thửa 154 khi đo đạc bản đồ năm 2002. Mặt khác khi đo đạc bản đồ năm 2002, tại biên bản xác nhận mốc giới thửa đất thì ông Đ2, ông Đ1, ông T12 có ký biên bản xác định mốc giới thửa đất, trong biên bản có thể hiện hiện trạng các cạnh của thửa đất.
Như vậy, năm 1999 khi cấp GCNQSDĐ cho các hộ thì không đúng với số thửa, tờ bản đồ. Đến năm 2002 xã V đo đạc lại bản đồ, các hộ đã được ký giáp ranh, các hộ đã được cấp GCNQSDĐ sau đo đạc bản đồ. Do đó cần căn cứ vào bản đồ đo đạc năm 2002 của xã V để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/4/2025 cũng như kết quả đo vẽ hiện trạng và chồng áp bản đồ của Công ty TNHH một thành viên K thể hiện:
Lối đi chung theo bản đồ địa chính năm 2002 có tổng diện tích là 76,1 m². Quá trình giải quyết vụ án, Công ty K đã đo hiện trạng các thửa đất và chồng áp bản đồ năm 2002 thì thấy: Gia đình anh H1 có 01 vị trí chồng lấn vào lối đi chung, được giới hạn bởi các điểm I, J, K có diện tích 0,5 m² và 01 vị trí xây chừa ra làm lối đi chung giới hạn bởi các điểm K, L, M, N, O, P diện tích 2,7 m². Mặt khác, khi gia đình anh H1 xây dựng nhà ở đã báo anh Q, anh T7 đến xác định ranh giới. Đồng thời, nhà ở của gia đình anh H1 xây dựng là đường thẳng, nên không cản trở việc đi lại của các hộ. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà H đối với anh H1, chị T1 không có căn cứ chấp nhận.
Qua chồng áp bản đồ vị trí chồng lấn vào lối đi chung của hộ anh T7 có 02 vị trí gồm: Vị trí thứa nhất là nhà ở 02 tầng chồng lấn vào lối đi chung giới hạn bởi các điểm F, G, H, 42 diện tích 1,3 m² và vị trí thứ 2 gồm các điểm A, D, E, F, 42, 41, 40, 39, 38, 37 diện tích 10,5 m² (trong đó gia đình anh T7 xây dựng công trình phụ giới hạn bởi các điểm C, D, E, F, 42, 41, 40, 39, 38 diện tích 8,2 m²). Gia đình anh T7 đã xây dựng nhà bếp và công trình phụ lấn ra lối đi chung diện tích 8,2 m², ngăn cản, gây khó khăn cho việc di chuyển của gia đình bà H. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ chấp nhận.
Do vậy bà H khởi kiện yêu cầu về việc tranh chấp lối đi chung đối với bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ theo quy định tại Điều 175 Bộ luật dân sự; Điều 29, Điều 31 Luật đất đai. Bản án sơ thẩm buộc bị đơn anh Giáp Văn T14, chị Giáp Thị G và những người có liên quan là cháu Lê Văn T4, cháu Lê Thị Ngọc Á, cháu Lê Thị Ngọc H2 phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất 10,5 m² lối đi chung là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3, tại phiên toà phúc thẩm không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T và anh T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa.
[4]. Về án phí DSPT: Do kháng cáo của anh T và anh T3 không được chấp nhận nên anh T và anh T3 phải chịu án phí DSPT theo quy định khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn T và anh Nguyễn Văn T3, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lê Văn T và anh Nguyễn Văn T3 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh T và anh T3 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000394 ngày 26/8/2025 và biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000445 ngày 28/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 216/2025/DS-PT ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 216/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi
