|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 213/2025/DS-ST Ngày: 25/12/2025 V/v “T/c Hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và ông Huỳnh Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân khu vực 9 - An Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2025/QĐXXST – DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 394/2025/QÐST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (gọi tắt P). Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Trụ sở: Số B N, phường C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung N, chức vụ: Phó Giám đốc Khối quản lý và T cấu trúc Tài sản. Địa chỉ: Lầu B, số B L, Phường N, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 10772/UQ-PVB ngày 10/6/2020)
Người được ủy quyền lại:
+ Ông Nguyễn Trọng N1, chức vụ: Giám đốc KHCN.
+ Ông Phan Huỳnh Bá H, chức vụ: Chuyên viên quản lý khách hàng. Cùng địa chỉ liên hệ: Số A đường T, phường N, Thành phố Cần Thơ. (Theo Giấy ủy quyền số 4085/GUQ-PVB ngày 05/9/2025)
Bị đơn: Ông Cao Xuân H1, sinh năm 1989. Địa chỉ: lô D A2 Đ, phường L, tỉnh An Giang.
(nguyên đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 09/9/2025 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Huỳnh Bá H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Cao Xuân H1 cùng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh A – P1 cùng ký Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 252/2017/HĐTD/PVB-CN.LX ngày 17/05/2017 và KUNN ngày 17/05/2017 như sau: Hợp đồng tín dụng số 252/2017/HĐTD/PVB – CNLX ngày 17/5/2017 và KUNN ngày 17/5/2017, số tiền vay là 60.000.000đ, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là tiêu dùng, lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng tại thời điểm giải ngân được ghi cụ thể trong mỗi Khế ước nhận nợ; Lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần kể từ ngày giải ngân. Lãi suất được xác định theo công thức sau; Lãi suất cho vay = LS13+6%/năm; trong đó: LS13 là lãi suất Tiền gửi tiết kiệm đại chúng lĩnh lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, kỳ hạn 13 tháng, theo biểu lãi suất huy động của Ngân Hàng công bố từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc đến hạn nhưng chưa trả được; Lãi suất chậm trả lãi: Bằng 10%/năm; Lãi suất cơ cấu lại thời hạn trả nợ: Bằng 120% lãi suất cho vay trong hạn. Phí: Trong trường hợp có nhu cầu trả nợ trước hạn, Bên vay phải thanh toán phí trả nợ trước hạn cho Ngân Hàng. Các loại phí khác theo quy định của Ngân Hàng phù hợp với quy định pháp luật tại từng thời kỳ.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Cao Xuân H1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. P đã nhiều lần gửi công văn thông báo yêu cầu ông Cao Xuân H2 thanh toán khoản vay cho P theo đúng quy định. Tuy nhiên, ông Cao Xuân H1 đã không thực hiện, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Đến nay, số tiền mà ông Cao Xuân H1 đã thanh toán cho P cụ thể như sau:
Thanh toán nợ gốc: 19.417.021 đồng
Thanh toán nợ lãi: 12.340.195 đồng
Tổng cộng đã thanh toán: 31.757.216 đồng
Dư nợ khoản vay của ông Cao Xuân H1 tỉnh đến ngày 25/12/2025 là: Nợ gốc: 40.582.979đ; nợ lãi: 62.003.786đ. Tổng dư nợ là 102.586.765₫
P khởi kiện yêu cầu Tòa án khu vực 9 – An Giang giải quyết các vấn đề như sau:
1. Buộc ông Cao Xuân H1 thanh toán cho P tổng số tiền 102.586.765đồng; trong đó nợ gốc: 40.582.979đ; nợ lãi: 62.003.786đ (tạm tính đến ngày 25/12/2025).
2. Ông Cao Xuân H1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ ngày 05/11/2025 theo lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 252/2017/HDTD/PVB-CN.LX ngày 17/05/2017 và KUNN ngày 17/05/2017 cho đến khi ông Cao Xuân H3 thanh toán xong các khoản nợ.
Bị đơn là ông Cao Xuân H1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Bị đơn vắng mặt lần thứ hai
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền: Tranh chấp giữa P với ông Cao Xuân H1 là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại lô D A2 Đ, phường L, tỉnh An Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ ủy quyền cho ông Phan Huỳnh Bá H và ông Nguyễn Trọng N1 tham gia tố tụng, thủ tục ủy quyền hợp lệ, phù hợp với Điều 85 và Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận ông H và ông N1 tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.
[1.3] Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05 tháng 05 năm 2017; Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ông Cao Xuân H1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh A – P1 Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 252/2017/HĐTD/PVB-CN.LX ngày 17/05/2017 và KUNN ngày 17/5/2017 như sau: Hợp đồng tín dụng số 252/2017/HĐTD/PVB – CNLX ngày 17/5/2017 và KUNN ngày 17/5/2017, số tiền vay là 60.000.000đ, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Cao Xuân H1 đã thanh toán được tổng cộng là 31.757.216 đồng; trong đó nợ gốc là 19.417.021 đồng và đã trả lãi được 12.340.195 đồng và ngưng không thanh toán cho đến nay. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên P khởi kiện yêu cầu ông Cao Xuân H1 có trách nhiệm trả cho P số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày đến ngày 25/12/2025 là: Nợ gốc: 40.582.979đ; nợ lãi: 62.003.786đ. Tổng dư nợ là 102.586.765₫.
[2.3] Qua xem xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 252/2017/HĐTD/PVB-CN.LX ngày 17/5/2017 và KUNN ngày 17/5/2017 giữa P với ông Cao Xuân H1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với Điều 17 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng N2 ban hành và Luật tổ chức tín dụng năm 2010 cho nên hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý. Ông Cao Xuân H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn, lãi theo hợp đồng là vi phạm thỏa thuận đã giao kết nên phải chịu hậu quả theo giao kết trong hợp đồng giữa hai bên, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án phía bị đơn đã được Tòa án nhiều lần niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú nhưng bị đơn vẫn không thể hiện ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập cũng như có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bị đơn đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 25/12/2025 là 102.586.765₫ còn nợ là có cơ sở và phù hợp với qui định pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228, Điều 238; khoản 1 Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010.
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
- Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05 tháng 05 năm 2017.
Tuyên xử:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Buộc ông Cao Xuân H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Đ số tiền tính đến ngày 25/12/2025 tổng dư nợ là 102.586.765đ, trong đó: nợ gốc: 40.582.979đ; nợ lãi: 62.003.786₫.
+ Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (25/12/2025), ông Cao Xuân H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 252/2017/HĐTD/PVB-CN.LX ngày 17/5/2017 và KUNN ngày 17/5/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Cao Xuân H1 phải chịu 5.129.338đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được nhận lại số tiền 2.421.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002798 ngày 02/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 9).
+ Về quyền kháng cáo:
- Nguyên và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)
|
Nơi nhận: - Các đương sự - THA TPLX; - VKS TPLX - TAND tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ + VP. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đức Anh |
Bản án số 213/2025/DS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 213/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PVcombank kiện Cao Xuân H
