|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lương;
- Bà Hồ Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Huế, số E đường Đ, phường H, thành phố H xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/10/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, thành phố H. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 20/10/2025, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà với ông Lê Văn Đ có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 02 năm rồi đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) vào ngày 09/9/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố T, phường K, thành phố H). Khoảng vào năm 2011 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Khoảng vào năm 2015, bà ra Hà Nội sinh sống với con trai là Lê Vũ L. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay.
Lý do yêu cầu ly hôn là quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ hay gây gổ, đánh đập, vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau, nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà xin ly hôn ông Đ.
Về con chung: Bà với ông Lê Văn Đ có 03 người con chung là: Lê Vũ L, sinh ngày 24/11/1993, Lê Vũ L1, sinh ngày 13/3/1995 và Lê An C, sinh ngày 12/01/2004. Nay các con đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Phía bị đơn ông Lê Văn Đ trình bày:
Ông với bà Nguyễn Thị B có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 02 năm rồi đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) vào ngày 09/9/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố T, phường K, thành phố H). Khoảng vào năm 2011, bà B ra Hà Nội sinh sống với con trai là Lê Vũ L, còn ông ở tại địa phương. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà B xin ly hôn thì ông không đồng ý. Nguyên nhân là do vợ chồng đã lớn tuổi, các con đã trưởng thành, gia đình là trên hết; ông vẫn còn tình cảm vợ chồng với bà B. Ông có thừa nhận có uống rượu, về gây gổ, đánh đập bà B nhưng sau này ông thực sự cảm thấy hối lỗi về hành vi của mình. Vợ chồng đã kết hôn, chung sống với nhau từ lâu nên ông thấy cần hàn gắn để vợ chồng quay lại với nhau. Ông không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà B.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là: Lê Vũ L, sinh ngày 24/11/1993, Lê Vũ L1, sinh ngày 13/3/1995 và Lê An C, sinh ngày 12/01/2004. Nay các con đã trưởng thành, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho bà B ly hôn ông Đ; về con chung: Các con chung đã trên 18 tuổi, có đầy đủ khả năng lao động, đương sự không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên đề nghị không xem xét; về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Bị đơn ông Lê Văn Đ có địa chỉ cư trú tại phường K, thành phố H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Toà án nhân dân khu vực 3 – Huế thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B với ông Lê Văn Đ tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên (nay là Ủy ban nhân dân phường K, thành phố H) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 412 ngày 09/9/1991; thời điểm đăng ký, bà B và ông Đ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
- [3] Về yêu cầu ly hôn: Xét yêu cầu ly hôn của bà B, ý kiến của ông Đ, thấy rằng: Bà B yêu cầu ly hôn với lý do ông Đ hay gây gổ, đánh đập, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng ly thân đã lâu, không còn tình cảm với nhau. Ông Đ cho rằng vẫn còn tình cảm với bà B và muốn vợ chồng đoàn tụ vì tuổi đã lớn và các con đã lớn. Tuy nhiên xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng đến nay bà B vẫn một mực xin ly hôn ông Đ; từ năm 2015, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, bỏ mặc nhau, không còn quan tâm đến nhau, mệnh ai người nấy sống, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho bà B ly hôn ông Đ.
- [4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Văn Đ có 03 người con chung là Lê Vũ L, sinh ngày 24/11/1993, Lê Vũ L1, sinh ngày 13/3/1995 và Lê An C, sinh ngày 12/01/2004. Bà B và ông Đ không yêu cầu giải quyết nuôi con vì 03 người con đã đủ tuổi thành niên, có sức khỏe và khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét.
- [5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
- [6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị B. Tuyên xử cho bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Lê Văn Đ.
- Về con chung: 03 người con chung là Lê Vũ L, sinh ngày 24/11/1993, Lê Vũ L1, sinh ngày 13/3/1995 và Lê An C, sinh ngày 12/01/2004 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Văn Đ không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000728 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố H); bà B đã nộp đủ án phí.
- Án xử sơ thẩm xét xử công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần D |
Bản án số 211/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ về ly hôn
- Số bản án: 211/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ-B
