Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-PT

Ngày: 15-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh
  • Các thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến, Ông Nguyễn Văn Thư
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 15 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 572/HSPT ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng M.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Đồng Nai của Tòa án nhân dân khu vực 4- Đồng Nai.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Thị Hồng M; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; sinh ngày 17/7/2001; Nơi sinh: Đồng Nai; Nơi cư trú: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố S, xã C, tỉnh Đồng Nai). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Quang T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1 - sinh năm: 1976 (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 chị em; Chồng: Hồ Nguyễn Xuân H; sinh năm: 1987 (Đã ly hôn). Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng M: Luật sư Nguyễn Hùng Q – Công ty L1 thuộc đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).

Địa chỉ: 5 Đ, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Tổ H, khu phố T, phường H, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Lê Minh C, sinh năm 1966 (chồng bị hại); chị Lê Kim Trúc H1, sinh năm 1993 và anh Lê Minh T2, sinh năm 1984 (con của bị hại); (ông C và chị H1 uỷ quyền cho anh T2 theo giấy uỷ quyền ngày 11/09/2024) (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố T, phường H, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp S, thị trấn L, huyện C (nay là xã C), tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Hồng M làm công nhân tại Công ty E, tại Khu công nghiệp L, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 04 giờ 45 ngày 11/7/2024, Nguyễn Thị Hồng M không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định của pháp luật, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60B2 - 094.37, màu đen-bạc đi từ nhà tại khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố S, xã C, tỉnh Đồng Nai) đến Công ty E để làm việc, theo hướng quốc lộ E đến phường L. Đến khoảng 05 giờ 10 phút cùng ngày, M lưu thông đến đoạn Km00 + 630, thuộc khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố T, phường H, tỉnh Đồng Nai), M đi sát lề đường bên phải, tốc độ di chuyển khoảng 50 đến 60km/h. Cùng lúc này, có bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1966, ngụ tại: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố T, phường H, tỉnh Đồng Nai) đang dắt xe đạp không rõ nhãn hiệu, màu xanh đi từ trên vỉa hè xuống đường, theo hướng từ phải qua trái, cùng hướng di chuyển của M. Khi bánh sau xe đạp phía sau của bà L gần xuống hết lề đường thì M điều khiển xe mô tô đến, do không chú ý quan sát và khoảng cách giữa xe của M và bà L quá gần nên phần giảm xóc trước bên phải xe của M đã va chạm vào khung gác chân sau bên trái xe đạp của bà L. Hậu quả, bà L bị chấn thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Sau đó, bà L được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ điều trị.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 06 giờ 05 phút ngày 11/7/2024 và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập xác định:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, đoạn đường có hai phần đường chạy ngược chiều nhau chia vạch sơn vàng không liền nét. Mỗi phần đường có hai làn đường có kích thước là 3,5m và 2,5m. Vụ tai nạn nằm trên phần đường bên phải theo hướng C đi thành phố L nằm ở làn sát mép đường, làn có kích thước 2,5m, trong đó:

  • Xe mô tô biển số 60B2 - 094.37 sau tai nạn đầu xe hướng về thành phố L, đuôi xe hướng về huyện C, xe ngã nghiêng về phía bên phải. Trục trước cách mép đường bên phải 0,2m, trục sau cách mép đường bên phải 0,15m, trục sau cách điểm cuối vết cày là 2,2m và trục trước cách trục sau xe đạp là 2,5m.
  • Xe đạp sau tai nạn đầu xe hướng về thành phố L, đuôi xe hướng về huyện C, xe ngã nghiêng bên phải. Trục sau cách mép đường bên phải là 0,5m, trục trước cách mép đường bên phải là 0,2m, trục trước cách trụ điện (mốc hiện trường) là 20m.

- Vết cày dài 0,6m. Đầu vết cày cách mép đường bên phải là 0,1m, đuôi vết cày cách mép đường bên phải là 0,05m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 06 giờ 27 phút ngày 11/7/2024 do Trạm Cảnh sát giao thông S – Công an tỉnh Đ lập, đối với xe mô tô biển số 60B2-094.37 xác định:

  • Ốp đèn bên phải có vế mài mòn phần nhựa, bị gãy, nứt.
  • Yếm chắn gió bên phải có vết mài mòn có chiều hướng từ trước về sau, phần dưới của yếm chắn gió bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu.
  • Giảm xóc phía trước bên phải có vết bám dính cao su, màu đen.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 06 giờ 17 phút ngày 11/7/2024 do Trạm Cảnh sát giao thông S – Công an tỉnh Đ lập, đối với xe đạp màu sơn xanh nhạt xác định:

Gác để chân bên trái phía sau bị cong, gập có chiều hướng từ sau về trước; phần cao su ở đầu gác để chân có vế mài mòn.

Tại kết luận giám định số: 1663/KL-KTHS ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định:

  • Dấu vết trượt, xước, dính chất màu đen tại mặt trước giảm xóc trước bên phải của xe mô tô biển số: 60B2- 094.37 có chiều từ trước ra sau; phù hợp với dấu vết trượt, mất cao su màu đen tại cạnh sau khung gác chân sau bên trái của xe đạp màu xanh, có chiều từ sau ra trước. Đây cũng là điểm va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.
  • Bên phải xe mô tô biển số: 60B2- 094.37 (dấu vết trượt, xước, dính chất màu xanh tại mũi vè chắn bùn trước; dấu vết trượt, xước, nứt vỡ và dính chất màu xanh tại mặt ngoài yếm chắn gió phải; dấu vết nứt vỡ tại đầu dưới yếm chắn gió phải) có cùng chiều từ trước ra sau; phù hợp va chạm với bên trái xe đạp màu xanh (dấu vết trượt, nứt gãy cạnh sau bên trái của thanh gỗ giá đỡ yên sau bên trái; dấu vết trượt, mất sơn màu xanh tại mặt ngoài khung sườn trái; dấu vết trượt, mất sơn màu xanh tại mặt ngoài càng trước bên trái) có cùng chiều từ sau ra trước.

Tại kết luận giám định số: 0912/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với thương tích của bà Huỳnh Thị L xác định:

  • Sẹo mổ sọ não bán cầu phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%;
  • Sẹo mổ dẫn lưu vùng đỉnh kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%;
  • Mở nội khí quản. Tỷ lệ: 03%
  • Khuyết sọ bán cầu phải đáy phập phồng kích thước 09x13,3cm. Tỷ lệ: 41%;
  • Xuất huyết dưới nhện + dập não gây di chứng liệt % người trái mức độ nặng. Tỷ lệ: 71%;
  • Tụ máu dưới màng cứng đã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ. Tỷ lệ: 08%;
  • Tổn thương não di chứng mất ngôn ngữ kiểu Broca. Tỷ lệ: 16%;
  • Tổn thương sọ não gây liệt dây VII trung ương bên trái. Tỷ lệ: 26%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1966 tại thời điểm giám định là 91% (Chín mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại Văn bản số 139/PVPYQG-KGĐ ngày 04/9/2025, P tại thành phố Hồ Chí Minh từ chối giám định bổ sung tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và di chứng tổn thương của bà Huỳnh Thị L qua kết quả chụp MRI sọ não và đo điện não đồ, lý do: do nạn nhân trong tình trạng kích thích và không thực hiện theo ý lệnh.

Vật chứng và xử lý: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, mang biển số 60B2 - 094.37, màu đen-bạc và 01 (một) xe đạp không rõ nhãn hiệu, màu xanh. Các tài sản trên đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về dân sự: bị cáo Nguyễn Thị Hồng M đã bồi thường cho gia đình bị hại 8.000.000đ (tám triệu đồng). Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên anh Lê Minh T2 (Đại diện gia đình bà L) có đơn xin bãi nại dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai quyết định:

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2025, bị cáo Nguyễn Thị Hồng M có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng M, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Ngày 08/10/2025, bị cáo Nguyễn Thị Hồng M kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số số 50/2025/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai với nội dung xin hưởng án treo, đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 11/7/2024, tại km00 + 630, thuộc khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố T, phường H, tỉnh Đồng Nai); Nguyễn Thị Hồng M điều khiển xe mô tô biển số 60B2 - 094.37, không có giấy phép lái xe theo quy định, lưu thông theo hướng quốc lộ E đến thành phố L, do không chú ý quan sát nên phần giảm xóc phía trước bên phải xe của M đã va chạm vào khung gác chân sau bên trái xe đạp của bà Huỳnh Thị L đang dắt bộ qua đi từ vỉa hè xuống đường, theo hướng từ phải qua trái, cùng hướng di chuyển của M. Hậu quả, bà L bị thương tích với tỷ lệ là 91%.

Hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hồng M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo M, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Nên căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo M là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Đối với mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo, mặc dù bị cáo không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại đã có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là mẹ đơn thân nuôi hai con nhỏ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo M cung cấp các tài liệu: bị cáo là lao động chính, đang nuôi mẹ già và con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được cấp sơ thẩm xem xét.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như hoàn cảnh của bị cáo, Hồi đồng xét xử thấy rằng mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Từ nhận định và phân tích nêu trên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của luật sư về đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm a, g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hồng M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2025/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai về hình phạt.
  2. Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND khu vực 4- Đồng Nai (2);
  • - VKSND khu vực 4- Đồng Nai;
  • - Phòng THADS khu vực 4- Đồng Nai;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an xã Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng Hồ sơ- Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2026/HS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 21/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger