Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

Bản án số: 208/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2025
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thu Hảo.

Ông Nguyễn Văn Đành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 350/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 678/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025 và giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T, sinh ngày 01/01/1980 (Vắng mặt)

Căn cước công dân số 082180011941 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/12/2021.

Địa chỉ: Ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh ngày 12/7/1973 (Có mặt).

Căn cước công dân số 082073006111 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/4/2022.

Địa chỉ: Ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T và ông Nguyễn Tấn L tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1999, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Quá trình chung sống, ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông L thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn, kiếm chuyện chửi mắng, hăm dọa bà T. Ngoài ra bà T còn mâu thuẫn với mẹ chồng nên cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể duy trì hôn nhân với ông L nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung là chị Nguyễn Thị Nhật C, sinh ngày 14/8/2000 và anh Nguyễn Hà Đức T1, sinh ngày 04/3/2002. Hiện tại cả 02 con đã thành niên nên bà T không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T sẽ tự thoả thuận với ông L, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra, bà T không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông L trình bày rằng vợ chồng ông đang chung sống nhưng không biết vì lý do gì bà T bỏ nhà ra đi, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu ly hôn, ông L đồng ý; ngoài ra do con chung là chị C và anh T1 đã thành niên, ông L không yêu cầu giải quyết; tài sản chung, nợ chung ông L không tranh chấp gì với bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn L nên đây là “Tranh chấp ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

[2] Xét việc vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn bà T đã có văn bản trình bày ý kiến và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

[3] Về hôn nhân: Bà T và ông L chung sống trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Tháp), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, ngày 19/6/2002 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà T trình bày giữa bà và ông L xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được nên bà T yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập ông L để trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng ông L đều vắng mặt. Tại phiên toà, mặc dù ông L trình bày không rõ nguyên nhân mâu thuẫn nhưng ông L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T, điều đó cho thấy ông L không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà T và ông L không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung là chị Nguyễn Thị Nhật C, sinh ngày 14/8/2000 và anh Nguyễn Hà Đức T1, sinh ngày 04/3/2002. Hiện tại cả 02 con đã thành niên nên bà T, ông L đều không yêu cầu giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Mỹ T, bà T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn L.

2. Về án phí:

Bà Lê Thị Mỹ T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005040 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Ông Nguyễn Tấn L không phải nộp án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Ông L có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND Khu vực 2;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- UBND xã Đồng Sơn;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Thơm
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 208/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger