|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 20/2026/DS - PT Ngày: 20/01/2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Bé
Bà Võ Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lương Quốc Phòng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 395/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 471/2025/QĐ – PT ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên toà phúc thẩm số: 01/TB-TA ngày 05/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1997, CCCD số 048097007xxx; Địa chỉ: K6x/H6x/2x đường M, phường T, thành phố Đà Nẵng. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1991; Địa chỉ: K2xx/Hxx/6x đường T, phường A, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Lê V – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV N thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: Đường H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân N - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn T trình bày:
Trước đây ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị Xuân N quen biết nhau vì ông T làm trong ngành Ngân hàng, hai người có quan hệ làm ăn với nhau. Trong quá trình làm ăn chung, ông T và bà N có giao dịch về vấn đề tiền bạc, cụ thể ông T có cho bà N mượn tiền nhiều lần dưới hình thức chuyển khoản. Tính từ ngày 01/11/2022 đến ngày 01/5/2024, ông T cho bà N mượn tổng cộng 2.132.000.000 đồng.
Ngày 01/7/2024, ông T và bà N đã tính toán chốt lại số tiền nợ và bà N đã viết giấy xác nhận số nợ 2.132.000.000 đồng. Ông T nhiều lần yêu cầu bà N trả tiền nợ nhưng bà N vẫn không trả nên ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà N phải trả số tiền nợ trên, không yêu cầu tính lãi.
* Tại đơn trình bày ngày 10/6/2025 cũng như trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N trình bày:
Trước đây, bà và ông Nguyễn T có mối quan hệ quen biết và do ông T làm nhân viên Ngân hàng (có làm thêm dịch vụ đáo hạn ngân hàng) nên hai bên có giao dịch tiền bạc qua tài khoản Ngân hàng với nhau từ năm 2022. Trong quá trình giao dịch, số tiền làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng chuyển qua tài khoản giữa bà N và ông T rất nhiều lần với số tiền lớn nên sau đó giữa hai bên có phát sinh vướng mắc, mâu thuẫn.
Ngày 01/7/2024, ông Nguyễn T hẹn bà đến quán cà phê để thống nhất nợ nần giữa hai bên, tại quán cà phê ông T yêu cầu bà phải viết giấy xác nhận nợ của ông số tiền là 2.132.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm đó do bà N chưa tra soát và sao kê được chính xác số tiền hai bên đã giao dịch qua tài khoản nên không đồng ý xác nhận theo yêu cầu của ông T. Lúc này ông T và rất nhiều người thân của ông đã có hành vi la lối, đe doạ, khống chế, sau đó có hành vi bắt giữ người trái pháp luật và buộc bà N phải viết Giấy xác nhận có nhận chuyển khoản của ông số tiền 2.132.000.000 đồng là số tiền bà N mượn của ông T từ ngày 01/11/2022 đến ngày 01/7/2024. Nhận thấy việc ông T đã có hành vi ép buộc, bắt giữ người trái pháp luật để buộc bà phải viết Giấy xác nhận ngày 01/7/2024 xác nhận có nợ ông T số tiền 2.132.000.000 đồng; sau đó lại có hành vi gian dối, lợi dụng sự tin tưởng của bà N trong việc ký khống cho ông một số giấy mượn tiền để tiếp tục có hành vi lập Giấy cho mượn tiền ngày 01/5/2024 với số tiền cho bà mượn là 2.132.000.000 đồng đã có đầy đủ các dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản và bắt giữ người trái pháp luật nên bà tố giác hành vi của ông T đến Công an thành phố Đà Nẵng. Bà N xác định không nợ tiền ông T nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng quyết định:
- Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Xuân N.
- Buộc bà Nguyễn Thị Xuân N phải trả cho ông Nguyễn T số tiền 2.132.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi hai triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, thi hành án dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thời hạn, nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N: Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo, nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N:
[2.1] Về tài liệu, chứng cứ nguyên đơn ông Nguyễn T cung cấp kèm theo yêu cầu khởi kiện, gồm Giấy cho mượn tiền ghi ngày 01/5/2024 có chữ ký và viết ghi tên Bên cho vay là Nguyễn T và Bên vay là Nguyễn Thị Xuân N (Bản photocopy) và Giấy xác nhận lập ngày 01/7/2024 do bà Nguyễn Thị Xuân N viết và ký tên (Bản chính):
Xét, tại Giấy cho mượn tiền ghi ngày 01/5/2024 thể hiện: ông T cho bà N vay số tiền 2.132.000.000 đồng, thời điểm thanh toán là ngày 01/7/2024. Giấy xác nhận lập ngày 01/7/2024, bà N xác nhận có nhận số tiền chuyển khoảng của ông Nguyễn T số tiền: 2.132.000.000 đồng, tạm tính đến ngày 01/07/2024 là số tiền bà N mượn của ông Nguyễn T từ ngày 01/11/2022 - 01/07/2024. Giấy cho mượn tiền ngày 01/5/2024 chỉ là bản photocopy. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà xác định Giấy cho mượn tiền này là do bà N ký khống nhiều bản cho ông T để ông T thuận lợi trong việc giao dịch chứ không phải là xác nhận nợ thực tế, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào có cơ sở chứng minh việc ký khống vào giấy cho mượn tiền như bà N trình bày. Về số tiền mượn và thời hạn thanh toán theo Giấy cho mượn tiền ngày 01/5/2024 cũng chính là số tiền 2.132.000.000 đồng bà N xác nhận có mượn của ông T tính đến thời điểm viết giấy xác nhận là ngày 01/7/2024. Bà N cũng đã có đơn tố giác tội phạm đối với ông T có hành vi “Bắt giữ người trái pháp luật” và cưỡng đoạt bà số tiền số tiền 2.132.000.000 đồng vào ngày 01/7/2024. Tuy nhiên, ngày 09/5/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã có Phiếu hướng dẫn số: 3011/HD-CSHS-Đ1 gửi cho bà Nguyễn Thị Xuân N xác định: Nội dung bà N tố cáo ông Nguyễn T có hành vi cưỡng đoạt số tiền 2.132.000.000 đồng và có hành vi “Bắt giữ người trái pháp luật” vào ngày 01/7/2024 là không có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân N; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Xuân N.
Buộc bà Nguyễn Thị Xuân N phải trả cho ông Nguyễn T số tiền 2.132.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi hai triệu đồng).
2. Về án phí:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm là 74.640.000 đồng bà Nguyễn Thị Xuân N phải chịu.
2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Xuân N phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003015 ngày 07/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự Tp Đà Nẵng.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Hiếu |
Bản án số 20/2026/DS - PT ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 20/2026/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T nhiều lần yêu cầu bà N trả tiền nợ nhưng bà N vẫn không trả nên ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà N phải trả số tiền nợ trên, không yêu cầu tính lãi
