Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 20/2026/DS-PT

Ngày: 09-01-2026

“Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;

Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt; Ông Trần Văn Đạt;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 718/2025/TLPT-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 604/2025/QĐ-PT, ngày 18 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 341/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng N, sinh ngày 01/01/1979;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Hoàng N là ông Lê Văn Đ, sinh ngày 12/12/1960. Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp) (Giấy ủy quyền ngày 14/4/2023).

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1968; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Bà Nhan Thị Út E, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Chị Lê Nhan Thanh N1, sinh ngày 20/4/2000; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Anh Lê Phúc T, sinh ngày 26/10/2008. Người đại diện hợp pháp cho anh Lê Phúc T theo pháp luật là cha ruột ông Lê Văn H, sinh năm 1968. Cùng địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  6. Bà Lê Thị Á, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  7. Ông Lê Văn Đ, sinh ngày 12/12/1960; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  8. Bà Lê Thị Y, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  9. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  10. Bà Lê Thị D, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
  11. Ủy ban nhân dân huyện H. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo pháp luật ông Huỳnh Thanh P, chức vụ: Chủ tịch xã. Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Ông Lê Hoàng N là nguyên đơn.

(Ông N, ông Đ, ông H, ông H1, bà L, bà Út E, bà Á và bà Y có mặt tại phiên tòa, các đương sự còn lại vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2023, trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Lê Hoàng N do ông Lê Văn Đ cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trình bày:

Ông là anh ruột của ông H, ông N, không có mâu thuẫn gì với hai bên. Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha tên Lê Văn T2 (chết 1995), mẹ Nguyễn Thị Kim Đ1 (chết năm 2016), cha mẹ ông có tổng cộng 10 người con gồm: 1/Lê Thị Ánh; 2/Lê Văn Điệp; 3/Lê Văn Hiền; 4/Lê Văn Hoàng; 5/Lê Thị Yến; 6/Lê Văn Tuấn; 7/Lê Thị Diễm; 8/Lê Thị Mỹ Lệ; 9/Lê H; 10/Lê H. Cha mẹ chết không để lại di chúc.

Cha mẹ ông có tổng cộng trên 100 công đất, sau này cha ông lấy đất chia cho 07 anh em của cha ông, còn lại khoảng 54 công, khi còn sống chung nhà với cha mẹ thì vào năm 1993 thì ông được cho 05 công đất, bà Á được cho 04 công, những người em còn lại thì chưa cho, 35 công đất còn lại, không biết số thửa đất nào, tờ bản đồ thì mẹ ông đã đem cầm cố hết, không nhớ cố cho những ai, chỉ nhớ cố cho ông Hai G 21 công, cố cho ông Tám B 10 công, cố cho ông G1 04 công, giá cố bao nhiêu không biết, mẹ ông nói người con nào có tiền, vàng chuộc lại đất thì người đó canh tác, con trai cho 04 công và con gái cho 03 công. Mẹ ông không có nói đất cho các con mỗi 1 ô đất, nghĩa là nếu đất người con nào không đủ 03-04 công hay hơn 03-04 công là tự hưởng, tự chịu, mà nói nếu ai dư thì trả lại, ai thiếu bù thêm.

Đất do cụ Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất, sau đó sang tên từ cụ Đ1 sang cho ông Lê Văn T1 đứng tên quyền sử dụng đất, để vay tiền Ngân hàng, sau khi trả nợ cho Ngân hàng thì ông N đứng tên toàn bộ diện tích đất cha mẹ để lại.

Không nhớ ngày tháng năm thì bà L chuộc lại 3 công 5, bà D chuộc lại 1 công 8, ông H chuộc 4 công 7, còn lại ông N chuộc 17 công 7, hiện đất của mẹ ông còn cố cho ông G 04 công, ông H 04 công chưa chuộc lại. Không rõ ông N, bà L, bà D, ông H chuộc đất lại giá bao nhiêu. Sau đó, phần đất ông Hoàng C từ ông Hai G 05 công thì ông H canh tác đất được vài năm thì ông N chuộc lại làm cho đến nay. Sau khi bà D, bà L, ông H, ông N bỏ vàng ra chuộc đất lại thì họ trực tiếp canh tác phần đất đã chuộc lại. Phần đất hiện đang cố cho người khác chưa chuộc lại do ông Lê Văn T1 đứng tên, không rõ diện tích, số thửa đất, tờ bản đồ, không biết có đem thế chấp vay Ngân hàng không, phần này các anh chị em ông N không có tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoàng N, yêu cầu ông Lê Văn H trả lại phần đất có diện tích 1.404,8m² (thể hiện ở vị trí 2, 4, 6), ông Lê Văn H có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu ông N sang tên quyền sử dụng đất và trả lại vàng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 3, khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông N yêu cầu ông H trả lại đất. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Về nguồn gốc đất đang tranh chấp: cả ông N và ông H đều thống nhất của cụ Lê Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Kim Đ1 để lại. Khi còn sống thì cụ T2, cụ Đ1 cầm cố hết đất nên không có chia cho các con và có thống nhất trong gia đình, người con nào có điều kiện bỏ vàng ra chuộc đất thì được sử dụng đất chuộc. Do đó, ông H bỏ vàng ra chuộc lại đất từ ông G1, ông L1 vào năm 2000, nhận chuyển nhượng đất từ bà L vào năm 2016; còn ông N chuộc lại đất từ ông H2 là 03 công. Sau khi chuộc lại đất thì ông H đã quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp ổn định, liên tục, ông N cũng như các anh chị em còn lại không tranh chấp, ngăn cản hay yêu cầu ông H trả lại phần đất chuộc có dư diện tích, ông N cũng không có chứng cứ, chứng minh diện tích đất ông N yêu cầu ông H trả lại là do ông H lấn chiếm đất của ông N.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 26; điều 236 Luật Đất Đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hoàng N;

2. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Đồng Tháp.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Hoàng N, về việc yêu cầu ông Lê Văn H trả lại cho ông N phần đất theo sơ đồ đo đạc thực tế có diện tích 1.404,8m² (tại vị trí 2, 4, 6 trên sơ đồ) thuộc một phần thửa đất 550 tờ bản đồ 3 và một phần đất thủy lợi, do ông N đứng tên quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lê Văn H. Buộc ông Lê Hoàng N có trách nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn H phần đất tại vị trí 1, 2 có diện tích 4.809,5m² (LUC) trong phạm vi từ mốc (M3, M8, M13, M14, M3 ); phần đất có diện tích 1.389,3m² (LUC+ DTL) trong phạm vi từ mốc (M3, M24, M23, M22, M7, M4); phần đất có diện tích 48,64m² (LUC+ DTL) trong phạm vi từ mốc (M9, M26, M25, M9); Tổng diện tích 6.247,44m² thuộc một phần thửa đất 550, tờ bản đồ số 03 do ông N đứng tên quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).

- Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Lê Văn H, về việc yêu cầu ông Lê Hoàng N trả 09 chỉ vàng 24kra (vàng 10 tuổi).

Nơi nhận:

- Phòng GĐ, KT, TT và THA tỉnh;

- VKSND Tỉnh;

- TAND Khu vực 12 – Đồng Tháp;

- Phòng Khu vực 12 – Đồng Tháp;

- Đương sự;

- Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản

  • Số bản án: 20/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger