Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - HÀ TĨNH

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 25/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh và ông Phạm Ngạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/11/2005, tại xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Căn cước công dân số 042205009427, cấp ngày 12/09/2022, nơi cấp Cục CS QLHC về trật tự xã hội. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông (không rõ), con bà Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 43/2023/HS-ST ngày 09/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TAND khu vực 4 - Hà Tĩnh) xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, là người chưa thành niên phạm tội đã chấp hành xong bản án nên không coi là án tích; Bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam H thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 04/11/2025 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Nữ Khánh L, sinh năm: 2007; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Lê Quốc T, sinh năm: 1991; nghề nghiệp: Kinh doanh; địa chỉ: Số D, đường T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Chị Dương Thị T1, sinh năm: 1993; nghề nghiệp: nhân viên bán hàng; địa chỉ: số E đường H, phường T, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị M1 năm: 1982; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
  • Anh Nguyễn Thế S, sinh năm: 1985; nghề nghiệp: Lái xe taxi; địa chỉ: Tổ dân phố H, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
  • Chị Hoàng Thị B năm: 1994; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác

  1. Đồng chí Lê Quang D - Tổ trưởng tổ dẫn giải.
  2. Đồng chí Nguyễn Hữu Hvà Lê Bùi Nam A1 - Cảnh sát bảo vệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết chị Lê Nữ Khánh L, ở xã H, tỉnh Hà Tĩnh thấy chị L1 điện thoại Iphone 14 Pro Max Nguyễn Tuấn A2 sinh ý định lấy trộm. Khoảng 02 giờ ngày 31/10/2025, Anh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38B1-255.18 (bị cáo mượn xe của chị Hoàng Thị B1 - mợ của bị cáo), đến nhà của chị L, A3 xe ngoài đường rồi đi bộ theo bờ rào vòng ra phía sau trèo vào nhà đến phòng ngủ chị L2 chị L3 ngủ, cuối giường có 02 chiếc điện thoại đang cắm xạc pin, Anh lấy chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím của chị L4 vào túi quần và đi ra theo lối cũ điều khiển xe mô tô về nhà bà ngoại là Nguyễn Thị V đó, Anh mượn điện thoại này của chị Lsử dụng nên biết mật khẩu mở máy và mật khẩu tài khoản iCloud nên trên đường về Ađã mở máy, đăng xuất tài khoản iCloud và tắt nguồn điện thoại để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, A4 anh Nguyễn Thế S, tài xế taxi hãng Bách Đại D1chở đến cửa hàng T8, số E đường H, phường T, tỉnh Hà Tĩnh để bán điện thoại nói trên nhưng chị Dương Thị T2 viên trả lời cửa hàng không mua. Sau đó, chị T1 chụp ảnh điện thoại Anh bán gửi cho anh Lê Quốc T chủ cửa hàng điện thoại Thành Store, địa chỉ số D đường T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh, hỏi anh T3 mua không. Sau khi nhờ chị T1 kiểm tra thông tin máy, thỏa thuận giá và anh T4 ý mua với giá 13.200.000 đồng. Anh T5 tiền qua tài khoản ngân hàng của chị T1 để thanh toán trả tiền cho A. Do không có tài khoản, A5 hỏi và nhờ tài khoản số 3707205050365 Ngân hàng N(A2 của anh Nguyễn Thế S1 chị T1 chuyển tiền. Sau đó anh S3 Adi rút tiền, rồi chở về xã H bán điện thoại, Anh trả tiền thuê đi xe taxi cho anh S700.000 đồng, còn lại 12.500.000 đồng, Anh sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 04/11/2025, Nguyễn Tuấn A6 Công an xã H, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú.

Cùng ngày, anh Lê Quốc T6 nộp lại điện thoại di động đã mua của Anh; ngày 15/11/2025 chị Hoàng Thị B2 nộp chiếc xe mô tô Honda Vision cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H

Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS, ngày 10/11/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thuộc Ủy ban nhân dân xã H, kết luận: Giá trị 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, có thông tin số máy MQ863ZA/A; số sê-ri T1YGNX2H2C; số IMEI 351344356530268; Số IMEI2 351344358032057, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 15.000.000 đồng.

Về dân sự: Chị Lê Nữ Khánh L đã nhận lại điện thoại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo đã tác động tới mẹ là chị Nguyễn Thị M bồi thường cho Lê Quốc T 13.200.000 đồng, anh T và chị M không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-KV4 ngày 11/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Tuấn A từ 12 đến 18 tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được sai phạm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai của bị cáo thống nhất và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đầy đủ chứng cứ kết luận vào khoảng 02 giờ ngày 31/10/2025, Nguyễn Tuấn A đột nhập vào nhà bí mật, lén lút chiếm điện thoại di động Iphone 14 Promax trị giá 15.000.000 đồng của chị Lê Nữ Khánh L, thu lợi bất chính 13.200.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần trước thuộc trường hợp không coi là án tích, lần này phạm tội “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo hướng dẫn tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo “Đầu thú”; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo tác động mẹ bồi thường cho anh Lê Quốc T7 tiền 13.200.000 đồng đồng tiền thu lợi bất chính không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, thưởng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP-TANDTC nói trên thì bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mẹ bị cáo xuất trình Giấy chứng nhận tham gia dân quân hỏa tuyến của B3 cho ông ngoại bị cáo là Nguyễn Đình S2, nhưng theo hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP-TANDTC nói trên thì Giấy chứng nhận trên của ông ngoại bị cáo không thuộc tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản, nhưng không chịu cải tạo thành người tốt mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là thỏa đáng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ. Chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không có cha, mẹ đi lấy chồng, từ nhỏ sống với bà ngoại nay đã già yếu nên bị cáo thiếu tình yêu thương, sự quan tâm, dạy dỗ của cha mẹ nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Xét luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, về điều luật áp dụng phù hợp, về mức án thỏa đáng.

[7] Đối với anh Lê Quốc T là người đã mua tài sản do bị cáo phạm tội mà có; chị Hoàng Thị B1 là chủ sở hữu phương tiện Nguyễn Tuấn A dùng làm phương tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp; anh Nguyễn Thế S3 bị cáo đi tiêu thụ tài sản và cho bị cáo mượn tài khoản giao dịch nhận tiền phạm tội mà có, nhưng những người này không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không hứa hẹn, không trao đổi, bàn bạc và không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về dân sự: Chị Lê Nữ Khánh L, chị Hoàng Thị B4 Lê Quốc T nhận lại tài sản và chị Nguyễn Thị M2 đã bồi thường cho anh Lê Quốc T; những người này không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Việc cơ quan điều tra trả lại vật chứng cho chủ sở hữu 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím cho chị Lê Nữ Khánh L, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen bạc, biển kiểm soát 38B1-255.18 cho chị Hoàng Thị B1 là đúng quy định pháp luật.

[10] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/11/2025).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 6, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối với người có mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN





Trịnh Xuân Minh     Phạm Ngạch

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Đức Chính

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND Khu vực 4 - Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC 10 CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA - VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa





Trần Đức Chính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger