Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 198/2025/HS-ST

Ngày 22/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bình Dương.
  2. Ông Nguyễn Văn Thục.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức C - Kiểm sát viên.

Ngày 22/12/2025 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh B xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2025/QĐXXST-HS ngày 09/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1984; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Phạm Viết T, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Phạm Thị H1, sinh năm 1956 (đã chết); Chồng, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Tại bản án hình sự số 57/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Phạm Thị H tử hình về tội “Giết người”; Tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 397/2012/HSST ngày 24/9/2012 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Thị H 6 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tính đến thời điểm phạm tội mới H đã được xoá án tích.

Hiện đang giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B để đảm bảo thi hành án theo Bản án số 57/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. (có mặt).

* Bị hại: Bùi Thị T1, sinh năm 1964. (có mặt)

Hiện đang giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1986 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố Đông Ngạc, xã Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Ninh
  2. Ông Dương Văn T2, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Ông Thân Văn Q, sinh năm 1979 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ 1, phường Đa Mai, tỉnh Bắc Ninh
  4. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1992 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, tỉnh Bắc Ninh
  5. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Phường Đa Mai, tỉnh Bắc Ninh
  6. Ông Hứa Văn L, sinh năm 2005 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn Na Hem, xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh
  7. Ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1976 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Số nhà I, ngõ A, đường V, phường B, tỉnh Bắc Ninh
  8. Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Phường Cảnh Thuỵ, tỉnh Bắc Ninh
  9. Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn X, xã H, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buồng giam G2 Trại tạm giam Công an tỉnh B thuộc phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh) là buồng giam người bị kết án tử hình, bên trong buồng giam bố trí giam 02 người đã bị tuyên án tử hình đã có hiệu lực pháp luật gồm: bà Bùi Thị T1, sinh năm 1964, trú tại thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, tỉnh Hải Phòng) về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và Phạm Thị H, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh) về tội “Giết người”. Trong buồng giam G2 bố trí 2 giường bê tông, mỗi người nằm trên 1 giường đều bị cùm 01 chân ở đầu giường, ở giữa 02 giường là lối đi ra vào cửa chính.

Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, H cho rằng bà T1 có thái độ “coi khinh” H vì nhà H nghèo, không có tiền, bà T1 có lời nói xúc phạm H nên H bực tức nảy sinh ý đính đánh bà T1 mục đích để H không phải ở cùng buồng giam với bà T1 nữa.

Khoảng 00 giờ ngày 16/5/2025, bà T1 đang nằm ngủ thì H dùng tay với sang giường của bà T1 kéo chăn bà T1, bà T1 nhoài người quay sang đòi chăn thì Hà túm được tóc bà T1, tay phải cầm 01 thanh nhựa bẻ từ móc quần áo màu đen dài khoảng 20 cm, đường kính 01 cm chọc liên tiếp vào cùng cổ, mặt, mắt của bà T1; bà T1 dơ tay lên đỡ gạt tay H rồi quay về phía giường của mình. H tiếp tục dùng tay túm tóc bà T1 kéo lại phía H, ấn đầu bà T1 xuống sàn nhà rồi lấy thanh nhựa tiếp tục chọc nhiều nhát vào vùng mắt, mặt bà T1. H lấy 01 bát nhựa chứa nước mắm hắt về phía bà T1, rồi tiếp tục kéo bà T1 lôi kéo về phía mình, dùng thanh nhựa chọc vào mắt, mặt bà T1; bà T1 giằng co, xoay người áp sát vào sát tường để thoát được tầm với của H thì H tiếp tục túm vào quần bà T1, cầm thanh nhựa chọc vào mông, đùi bà T1, H để thanh nhựa xuống giường rồi tiếp tục dùng sức lôi kéo bà T1 về phía mình dùng hai tay túm tóc, tay phải cầm bàn chải đánh răng chọc vào mắt, mặt bà T1, hất chai nước tương vào mặt bà T1. Sau đó H vứt bàn chải đánh răng đi, tay phải chọc móc vào mắt bà T1, H lấy thanh nhựa đặt trên giường tiếp tục chọc vào mắt bà T1, lấy bát nhựa, xô nhựa đánh đập vào vùng mặt bà T1, lấy chai nước rửa bát đổ vào mặt bà T1...Đến khoảng 00 giờ 09 phút cùng ngày, thông qua Camera giám sát buồng giam cán bộ quản giáo phát hiện vào phòng mở cửa thì H vẫn tiếp tục dùng dép đánh vào mặt bà T1, dùng tay móc vào mắt bà T1, khi cán bộ quản giáo can ngăn thì H mới dừng lại. Hậu quả bà T1 được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu.

Kết quả khám nghiệm hiện trường

Hiện trường là Buồng giam số 2 thuộc dãy nhà G (buồng giam người bị kết án tử hình), hướng Đông giáp buồng giam số 3, hướng Tây tiếp giáp buồng giam số 1, hướng Nam tiếp giáp sảnh đi lại khu giam giữ và hướng Bắc tiếp giáp lối đi trong trại giam.

Buồng giam G2 thiết kế 02 cửa ra vào gồm 02 phòng, 01 phòng phía Bắc và 01 phòng phía Nam. Phòng phía Nam kích thước (1,5x2,8) m, phòng phía Nam có thiết kế 01 cửa ra vào kích thước (0,7x2) m, phía trên phòng có lớp ngăn cách bằng lưới B40 và ngăn bê tông. Sàn phòng lát xi măng. Cửa ra vào là loại cửa kim loại, mở ra ngoài có 1 cánh. Bên ngoài có chốt khoá cách sàn 0,65m. Trên cửa có 01 lỗ tròn đường kính 0,12m, cáo cách sàn 1,15m. Tại vị trí sàn phòng phía Nam, cách bức tường phía Tây 0,6m. Trên cửa có 01 lỗ tròn đường kính 0,12m, cao cách sàn 1,15m. Tại vị trí sàn phòng phía Nam, cách bức tường phía Tây 0,6m, cách cửa ra vào 0,5m phát hiên hiện 1 xô nhựa màu đỏ, đường kính miệng 25 cm, cao 22 cm ký hiệu số 1. Bên trong xô nhựa màu đỏ có 06 thanh nhựa màu đen hình tròn đường kính 1 cm dài 26,8 cm; 23,1 cm; 6,4 cm; 11,1 cm; 14,9 cm; 7,6 cm bên trên có bám dính sợi tóc màu đen trắng, chất màu nâu đỏ; 01 thanh nhựa màu xanh dài 20,1 cm, đường kính 0,8 cm hai đầu có vết gãy nham nhở, bên trên có bám dính tóc màu đen, chất màu nâu đỏ. 01 bàn chải đánh răng nhãn hiệu Colgate phần bàn chải màu xanh vàng, phần tay cầm màu trắng đỏ phần tay cầm có bám dính chất màu đỏ kích thước 18,3 cm. 01 chai nhựa rửa chén bên trên có chữ Fineday, bên trên chai nhựa có bám dính chất màu nâu đỏ. 01 chai nước nắm, bên trên có nhãn hiệu nước mắm Nam Ngư; 01 chai nhựa bên trên có chữ nước tương chinsu.

Bên cạnh phía Nam của xô nhựa có 01 bát nhựa, loại có nắp đậy. Trên nắp nhựa có bám dính chất màu nâu đỏ, nắp nhựa có đường kính 17,4 cm. Đám chất màu nâu đỏ trên diện (8,5x3,8) cm sát tường phía Nam, cách tường phía Tây 0,25m phát hiện 01 xô nhựa màu đỏ đường kính 27,5 cm, cao 26 cm. Bên trong có 01 áo vải hoa văn nhiều màu, 01 quần đùi vải chấm hình tròn nhiều màu.

Cách bức tường phía Tây 0,55 m, cách cửa phía Nam 1m phát hiện 01 bát nhựa màu trắng, miệng bát có đường kính 20,4 cm, cao 9,5cm, bên trong bút có 01 mảnh nhựa vỡ (đều bám dính chất màu nâu đỏ), 01 chai nhựa màu trắng bên trong có các tinh thể màu trắng, 01 chai nhựa bên trên có chữ nước chấm Phan Thiết ký hiệu số 2.

Cách bức tường phía Nam 0,15m, cách tường phía Tây 1,1m phát hiện 01 dép nhựa màu trắng, chân, mặt dưới bám dính chất màu nâu đỏ, ký hiệu số 3.

Phòng phía Bắc có 01 cửa sắt loại mở ra ngoài, chốt khoá ngoài cách sàn phòng phía Nam 0,8m, cửa sắt gồm 02 phần, phía dưới là tấm kim loại che kín kích thước (1,2x0,69) m. Phần phía trên có chăn song kim loại kích thước (13x9) cm. Phía ngoài cửa có 02 tấm kim loại mở hướng ra ngoài có khả năng che chắn toàn bộ phần chấn song. Cửa sắt có kích thước (0,7x1,8) m. Sàn phòng phía Bắc cao hơn sàn phòng phía Nam 0,35 m, phòng có 02 giường bê tông, kích thước (2,15 x1,05) m.

Cao cách sàn 0,16 m hai giường sát 2 tường phía Đông và phía Tây, ở giữa 2 giường có lối đi rộng 0,71, đầu phía Nam cửa mỗi giường cách tường phía Nam 20 cm, có bố trí 01 cùm chân bằng kim loại, được gắn cố định trên giường. Tại mặt thành phía Đông, giường phía Tây, cách cửa ra vào 1,5m phát hiện vết màu nâu đỏ dạng bắn vẫy trên diện (31x12) cm.

Sát bức tường phía Bắc cách tường 1,75 m phát hiện 01 dép màu trắng, bên phải, bên trên có bám dính chất màu nâu đỏ.

Cách tường phía Bắc 0,7 m, cách tường phía Tây 0,25 m phát hiện 01 xô nhựa màu đỏ, có đường kính 32 cm, cao 29,5 cm, xô nhựa có bám dính chất màu nâu đỏ, tóc màu đen trắng ký hiệu số 4.

Thu giữ: thanh nhựa, bàn chải, dép, chai nhựa, nắp nhựa, bát nhựa, xô nhựa, bộ quần áo...tại các vị trí 1, 2, 3, 4. (BL 30-45).

Thương tích của bà T1:

Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh B, xác định: Bùi Thị T1 vào viện ngày 01 giờ 10 phút ngày 16/5/2025, tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được; Mắt trái: sưng nề nhiều không tự mở được mắt, mi trên có vết rách da 2 vị trí mép mi và góc trong, không tự mở được mắt dùng vành mi kéo mi trên lên quan sát được một phần giác mạc có tổn thương biểu mô, tiền phòng có máu không quan sát được phía sau. Mắt phải: mi phù nề, kết mạc cương tụ kèm theo xuất huyết, giác mạc trong, tiền phòng sạch, đồng tử tròn.

- Chụp cắt lớp vi tính: Vài ổ khuyết não vị trí nhân bèo hai bên. Sưng nề vùng mắt hai bên.

* Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3195/25/KLTTCT-TTPY ngày 26/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:

  • Thương tích bầm tím hố mắt phải: 0,5%;
  • Thương tích bầm tím hố mắt trái: 0,5%;
  • Thương tích vết sẹo mi trên mắt trái kích thước (1,5x0,1) cm: 3%;
  • Thương tích vết sẹo mi trên mắt trái kích thước (1x0,3) cm: 3%;
  • Thương tích: Thị lực mắt phải 5/10; mắt trái đếm ngón tay 1 m: 35%.

Kết luận: Tỷ lệ thương tích của bà Bùi Thị T1 tại thời điểm giám định là 39%. (BL 109-110).

Về trách nhiệm dân sự: bà T1 không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Về vật chứng: Vật chứng thu giữ đã được Cơ quan điều tra thu giữ và bảo quản theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSBN-P2 ngày 28/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thị Hà ra trước Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo thấy rất hối hận về hành vi phạm tội của mình.

Bị hại Bùi Thị T1 có mặt và trình bày: giữ nguyên lời khai như đã trình bày tại Cơ quan điều tra. Bà yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà số tiền 10.000.000 đồng để bà chữa mắt.

Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Phạm Thị H từ 07 (bẩy) năm đến 07 năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích".

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với hình phạt tử hình về tội “Giết người” theo bản án số 57/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung là tử hình.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại Bùi Thị T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đồng ý với yêu cầu của bà T1. Do đó, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà T1 số tiền 10.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ những đồ vật không còn giá trị sử dụng

* Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử tha lỗi cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này, việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Xét hành vi của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận:

[4]. Phạm Thị H và bà Bùi Thị T1 bị giam tại buồng giam tử hình G2 Trại tạm giam Công an tỉnh B tại phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh). Do trong quá trình sinh hoạt tại phòng thì H và bà T1 xảy ra mâu thuẫn, để không phải ở cùng bà T1 nên H đã dùng thanh nhựa, bàn chải chọc liên tiếp vào mắt; dùng xô nhựa, dép nhựa cùng vật dụng sử dụng sinh hoạt hàng ngày trong buồng giam đánh liên tiếp vào mặt của bà T1. Hậu quả bà T1 bị tỷ lệ thương tích là 39%.

[5]. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, g, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[6]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong quá trình sinh hoạt chung tại buồng giam tử hình, để không phải tiếp tục ở cùng bị hại mà bị cáo đã sử dụng các vật dụng như bàn chải, thanh nhựa,... liên tiếp gây thương tích vào mặt của bị hại. Bị cáo đang là người bị giam để thi hành án tử hình nhưng vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội mới, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác. Do vậy, phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo.

[7]. Về nhân thân: Bị cáo Phạm Thị H có nhân thân xấu, hiện đang chấp hành án tử hình về tội “Giết người”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

[8]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[9]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[10]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[11]. Về trách nhiệm dân sự và khắc phục hậu quả: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật dân sự. Bị hại Bùi Thị T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để bà chữa mắt hồi phục, bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường của bị hại. Do đó, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà T1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

[12]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ những đồ vật không còn giá trị sử dụng:

  • 01 túi niêm phong ký hiệu PS2 24072602 bên trong có: 06 (sáu) thanh nhựa màu đen, dạng trụ tròn, đường kính 1 cm, hai đầu đều có vết gãy, trong đó có 03 thanh có độ dài lần lượt là (26,8; 23,1; 6,4) cm; 03 thanh trên bám dính sợi tóc màu đen màu trắng có độ dài lần lượt là (11,1; 14,9; 7,6) cm; 01 (một) thanh nhựa màu xanh dạng trụ tròn, dài 20,1 cm đường kính 0,8 cm hai đầu có vết gãy nhựa, trên có bám dính tóc màu đen, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) bàn chải nhãn hiệu Colgate màu trắng đỏ, đầu bàn chải màu trắng – vàng – xanh dài 18,3 cm, đầu tay cầm có bám dính chất màu đỏ.
  • 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS2 24072603 bên trong có: 01 dép nhựa màu trắng bên trái, mặt dưới bám dính chất màu nâu đỏ; 01 dép nhựa màu trắng bên phải, trên có bám dính chất màu nâu đỏ.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “1” bên trong có chưa đựng: 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước rửa chén nhãn hiệu Fineday, bên trên có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước mắm Nam Ngư; 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước tương Chinsu; 01 (một) xô nhựa màu đỏ; 01 (một) nắp nhựa đường kính 17,4 cm trên có bám dính chất màu đỏ kích thước (8,5 x 3,8) cm dạng bắng vẩy; 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên có chữ nước mắm Phan T6.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “2” bên trong có chưa đựng: 01 (một) bát nhựa màu trắng, miệng bát có đường kính 20,4 cm, cao 9,5 cm trên có bám dính chất màu đỏ, bên trong bát có 01 (một) mảnh nhựa vỡ có bám dính chất màu nâu; 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “3” bên trong có chứa đựng: 01 (một) xô nhựa đường kính 32 cm, cao 29,5 cm trên xô nhựa có bám dính chất màu nâu đỏ, tóc màu đen và trắng.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “4” bên trong có chứa đựng: 01 (một) áo vải nền màu xanh có hoa văn nhiều màu và 01 (một) quần vải mềm màu đen có chấm tròn nhiều màu.

[13]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[14]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp với hình phạt tử hình về tội “Giết người” theo bản án số 57/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung là tử hình.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Phạm Thị H phải bồi thường cho bà Bùi Thị T1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Về lãi suất chậm thi hành án:

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 túi niêm phong ký hiệu PS2 24072602 bên trong có: 06 (sáu) thanh nhựa màu đen, dạng trụ tròn, đường kính 1 cm, hai đầu đều có vết gãy, trong đó có 03 thanh có độ dài lần lượt là (26,8; 23,1; 6,4) cm; 03 thanh trên bám dính sợi tóc màu đen màu trắng có độ dài lần lượt là (11,1; 14,9; 7,6) cm; 01 (một) thanh nhựa màu xanh dạng trụ tròn, dài 20,1 cm đường kính 0,8 cm hai đầu có vết gãy nhựa, trên có bám dính tóc màu đen, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) bàn chải nhãn hiệu Colgate màu trắng đỏ, đầu bàn chải màu trắng – vàng – xanh dài 18,3 cm, đầu tay cầm có bám dính chất màu đỏ.
  • 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS2 24072603 bên trong có: 01 dép nhựa màu trắng bên trái, mặt dưới bám dính chất màu nâu đỏ; 01 dép nhựa màu trắng bên phải, trên có bám dính chất màu nâu đỏ.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “1” bên trong có chưa đựng: 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước rửa chén nhãn hiệu Fineday, bên trên có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước mắm Nam Ngư; 01 (một) chai nhựa trên có chữ nước tương Chinsu; 01 (một) xô nhựa màu đỏ; 01 (một) nắp nhựa đường kính 17,4 cm trên có bám dính chất màu đỏ kích thước (8,5 x 3,8) cm dạng bắng vẩy; 01 (một) chai nhựa màu trắng, trên có chữ nước mắm Phan T6.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “2” bên trong có chưa đựng: 01 (một) bát nhựa màu trắng, miệng bát có đường kính 20,4 cm, cao 9,5 cm trên có bám dính chất màu đỏ, bên trong bát có 01 (một) mảnh nhựa vỡ có bám dính chất màu nâu; 01 (một) chai nhựa màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “3” bên trong có chứa đựng: 01 (một) xô nhựa đường kính 32 cm, cao 29,5 cm trên xô nhựa có bám dính chất màu nâu đỏ, tóc màu đen và trắng.
  • 01 (một) thùng cattong ký hiệu “4” bên trong có chứa đựng: 01 (một) áo vải nền màu xanh có hoa văn nhiều màu và 01 (một) quần vải mềm màu đen có chấm tròn nhiều màu.

5. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Viện phúc thẩm 1 - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 02 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 198/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 198/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22/12/2025 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh B xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2025/QĐXXST-HS ngày 09/12/2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Thị H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1984; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Phạm Viết T, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Phạm Thị H1, sinh năm 1956 (đã chết); Chồng, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Tại bản án hình sự số 57/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Phạm Thị H tử hình về tội “Giết người”; Tiền sự: không.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger