Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2025/HNGĐ – ST

Ngày 25-12-2025

V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Phước Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Trọng
  2. Bà Trần Kim Ly

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – An Giang

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – An Giang tham gia phiên tòa: Vụ án không thuộc trường hợp đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã K, tỉnh An Giang

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã K, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Vào khoảng năm 1990, tôi và anh Nguyễn Văn N quen biết, tìm hiểu. Sau đó, chúng tôi được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức đám cưới nhưng do không am hiểu quy định của pháp luật nên không có đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu chúng tôi rất hạnh phúc, tuy nhiên, gần 06 (sáu) năm nay, khi con đều đã trưởng thành, xây dựng gia đình thì giữa chúng tôi lại thường xuyên xảy ra quá nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cãi vã từ những chuyện nhỏ nhặt, cuộc sống không còn tiếng nói chung. Tôi đã cố gắng chịu đựng để các con có đầy đủ cha mẹ nhưng tình hình hoàn toàn vẫn không cải thiện. Chúng tôi cũng đã chọn cuộc sống ly thân, tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài, tôi quyết định ly hôn.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể kéo dài theo được nữa, các mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi yêu cầu được Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Về hôn nhân: Tôi yêu cầu được ly hôn với anh anh Nguyễn Văn N.
  • - Về nợ chung: Vợ chồng có 03 người con chung là cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 12/8/1994, giới tính: Nam; cháu Nguyễn Văn L1, sinh ngày 17/01/1998, giới tính: Nam và cháu Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 25/4/2002. Do cả 03 cháu đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi, tự chăm lo được cho bản thân và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân, nên tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần con chung.
  • - Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tôi không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng tôi không có nợ chung, nên tôi không yêu cầu tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và biên bản hòa giải bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày như sau:

Vào khoảng năm 1990, tôi và bà Huỳnh Thị H quen biết, tìm hiểu. Sau đó, chúng tôi được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức đám cưới nhưng do không am hiểu quy định của pháp luật nên không có đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu chúng tôi rất hạnh phúc, tuy nhiên, nhiều năm nay khi con đều đã trưởng thành, xây dựng gia đình thì giữa chúng tôi lại thường xuyên xảy ra quá nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cãi vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân được hơn 06 năm nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể kéo dài theo được nữa, các mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi yêu cầu được Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • + Về hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị H
  • + Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 12/8/1994, giới tính: Nam; cháu Nguyễn Văn L1, sinh ngày 17/01/1998, giới tính: Nam và cháu Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 25/4/2002. Do cả 03 cháu đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi, tự chăm lo được cho bản thân và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân, nên tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần con chung.
  • + Về tài sản chung: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận được, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về nợ chung: Vợ chồng tôi không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Bà Huỳnh Thị H nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Văn N được Tòa án thụ lý ngày 23/10/2025 thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó Luật này được áp dụng để giải quyết các quan hệ hôn nhân, con chung giữa bà H và ông N. Mặt khác, bà H khởi kiện xin ly hôn với ông N có địa chỉ tại ấp B, xã K, tỉnh An Giang, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.

[3] Về quan hệ hôn nhân, HĐXX nhận thấy: Tại thời điểm chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1990 giữa bà H và ông N đến nay có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn là vi phạm những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cụ thể như sau:

Theo khoản 1, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“1. N1, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Theo Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Tại đơn xin xác nhận về việc không đăng ký kết hôn ngày 23/7/2024 thì ban lãnh đạo khu phố Xà Ngách và Ủy ban nhân dân thị trấn K đều xác nhận bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Văn N sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn

Như vậy, việc chung sống của bà H và ông N do không có đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng và không được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống bà H và ông N có 03 người con chung là cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 12/8/1994, giới tính: Nam; cháu Nguyễn Văn L1, sinh ngày 17/01/1998, giới tính: Nam và cháu Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 25/4/2002. Do cả 03 cháu đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi, tự chăm lo được cho bản thân và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân, nên Tòa án không xem xét giải quyết phần con chung.

[5] Về tài sản chung: Bà Huyện và ông Nhan tự thỏa thuận, yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét

[5] Về nợ chung: Bà Huyện và ông N không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng:

Khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 53, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

2/ Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Văn N là vợ chồng.
  • - Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống bà H và ông N có 03 người con chung là cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày 12/8/1994, giới tính: Nam; cháu Nguyễn Văn L1, sinh ngày 17/01/1998, giới tính: Nam và cháu Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 25/4/2002. Do cả 03 cháu đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi, tự chăm lo được cho bản thân và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân, nên Tòa án không xem xét giải quyết phần con chung.
  • - Về tài sản chung: Bà Huyện và ông Nhan tự thỏa thuận, yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét
  • - Về nợ chung: Bà Huyện và ông N không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét.
  • - Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005596 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, bà H không phải nộp thêm.

3/ Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/12/2025); bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV8 – An Giang;
  • - Phòng THADS KV8 – An Giang;
  • - UBND xã Kiên Lương;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Phước Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2025/HNGĐ – ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG về xin ly hôn

  • Số bản án: 196/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger