Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/DS-ST

Ngày: 20-01-2026

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân, ông Dương Văn Luỹ.

Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2025/TLST-DS ngày 14/10/2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-DS ngày 08/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).

Địa chỉ trụ sở: số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1995, chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP V.

CCCD số 080095002425 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 26/4/2021.

Địa chỉ liên lạc: Tầng D, Số A T, phường L, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền số 2283/2025/UQ-VPB ngày 08/10/2025).

- Bị đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1989;

CCCD số 089089003510.

Nơi cư trú: ấp P, xã C, tỉnh An Giang

(ông H có mặt; ông C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Minh H đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại chi nhánh Thành Phố H, ông Phan Văn C đã ký với Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) số LN2401081478272 (325-P-9934078), để vay số tiền 70.900.000 đồng, hạn mức vay là 70.900.000đồng. Mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất: 47.88%/năm, quá trình sử dụng thẻ ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 70.137.831đồng đến ngày 12/05/2024 ông C vi phạm nghĩa vụ không trả lãi, không trả vốn cho Ngân hàng, mặc dù phía Ngân hàng có điện thoại nhắc nhở nhiều lần nhưng ông C cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 thì ông C còn nợ Ngân hàng số tiền 156.751.839 đồng (trong đó nợ gốc 70.137.831 đồng, nợ lãi 86.613.558 đồng).

Bị đơn ông Phan Văn C vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình bày:

Tài liệu do Toà án thu thập được: ông Phan Văn T là cha đẻ ông C cho biết, ông có nhận đầy đủ các thông báo, quyết định của Toà án về việc Ngân hàng khởi kiện Phan Văn C đòi số tiền vay tính đến ngày 04/6/2025 là 110.579.227 đồng, hiện C đi làm xa thỉnh thoảng mới về nhà, ông có cho C biết về việc Ngân hàng khởi kiện nhưng do C bận công việc không về được tuỳ Toà án giải quyết theo quy định, đối với việc C vay tiền Ngân hàng ông không biết, không liên quan đến ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật, xác định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phan Văn C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/01/2026 là 156.751.839đồng (trong đó nợ gốc 70.137.831.000đồng, nợ lãi 86.613.558 đồng) của hợp đồng.

Kể từ ngày 21/01/2026 ông C còn phải tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, theo đúng thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết:

Bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

ông Phan Văn C là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín dụng:

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại chi nhánh Thành Phố H, ông Phan Văn C có ký với Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) số LN2401081478272 (325-P-9934078) để vay số tiền 70.900.000 đồng, hạn mức vay là 70.900.000đồng. Mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất: 47.88%/năm, quá trình sử dụng thẻ ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 70.137.831 đồng, ngày 12/05/2024 ông C vi phạm nghĩa vụ không trả lãi, không trả vốn cho Ngân hàng, mặc dù phía Ngân hàng có điện thoại nhắc nhở nhiều lần nhưng ông C cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 thì ông C còn nợ Ngân hàng số tiền 156.751.938 đồng, (trong đó nợ gốc 70.137.831 đồng, nợ lãi 86.613.558 đồng).

Xét thấy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số LN2401081478272 (325-P-9934078) ngày 05/01/2024 giữa Ngân hàng và ông C được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức, nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Sau khi sử dụng thẻ tín dụng ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc ông Phan Văn C trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 156.751.839 đồng (trong đó nợ gốc 70.137.831 đồng, nợ lãi 86.613.558 đồng) của hợp đồng tính đến ngày 20/01/2026 và lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng số LN2401081478272 (325-P-9934078) hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ đã ký kết.

[3] Về án phí:

Ông Phan Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Vank) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vank) đối với bị đơn ông Phan Văn C về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Phan Văn C trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 156.751.839 đồng, nợ gốc 70.137.831đồng, nợ lãi 86.613.558 đồng (trong đó lãi trong hạn là 57.742.372 đồng, lãi quá hạn là 28.871.186 đồng) của hợp đồng tính đến ngày 20/01/2026.

Ông C còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận của hợp đồng số LN2401081478272 (325-P-9934078).Từ ngày 21/01/2026 cho đến khi thanh toán xong số tiền trên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Phan Văn C phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số LN2401081478272 (325-P-9934078) ngày 05/01/2024 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vank) không phải chịu án phí. Trả lại Ngân hàng 2.765.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0003021 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Ông Phan Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.837.591 đồng.

Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12;
  • - Thi hành án dân sự Khu vực 12;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Ngọc Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2026/DS-ST ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2026/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger