Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA

 

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 12 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

chung khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khải Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hưng;

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Lê Thanh Trà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Thành Chế Trọng Triết - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thị T, sinh năm: 1995 (Xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Mang V, sinh năm: 1988 (Vắng mặt không lý do).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Mang V kết hôn với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND xã L, tỉnh Khánh Hòa) theo giấy chứng nhận kết hôn số 04/2014 ngày 20/01/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống tại thôn T, xã L, tỉnh Khánh Hòa. Thời gian đầu, đời sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, thời gian sau do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng chung sống không hòa hợp. Bà và ông V không còn sống chung với nhau được khoảng 6 năm. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Mang V.

Về con chung: Bà và ông Mang V có hai người con chung tên: Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013, Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016. Hiện cháu Mang Thị N đã nghỉ học và đi làm, cháu Mang Thị Phương N1 đang đi học. Hai cháu đều đang sống với bà, được bà nuôi dưỡng và phát triển tốt. Nếu ly hôn, bà xin được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và cháu N1. Bà không yêu cầu ông Mang V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, bà đang làm nông, mỗi tháng thu nhập trung bình khoảng 5.000.000 đồng, bà đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng hai con.

Về tài sản và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn là ông Mang V: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Mang V vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn là bà Thị T đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Còn bị đơn là ông Mang V mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V không chấp hành, vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Tình trạng hôn nhân giữa bà Thị T và ông Mang V đã mâu thuẫn trầm trọng. Yêu cầu ly hôn của bà Thị T có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thị T. Bà Thị T được ly hôn với ông Mang V.

- Về con chung: Giao con chung Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013 và Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016 cho bà Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Mang V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bà Thị T khởi kiện xin ly hôn ông Mang V và yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013, Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn ông Mang V cư trú tại thôn T, xã L, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Khánh Hòa.

[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn:

Bà Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Mang V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa ... nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Thị T và ông Mang V đăng ký kết hôn ngày 20/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Khánh Hòa) trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để ông Mang V tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện ông V đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, không còn quan tâm đến việc duy trì quan hệ hôn nhân với bà T.

Theo Biên bản xác minh ngày 13/11/2025 (bút lục số 32), bà Thị T và ông Mang V hiện không còn chung sống với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thị T và ông Mang V đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Thị T là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên yêu cầu ly hôn của bà Thị T được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013, Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Mang Thị N và Mang Thị Phương N1 có nguyện vọng được sống với mẹ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng: Nguyện vọng của bà Thị T phù hợp với nguyện vọng của cháu N và cháu N1 và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; bà Thị T có đủ khả năng và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, đảm bảo được sự phát triển tốt của cháu N và cháu N1, phù hợp với khoản 2, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của bà Thị T. Giao 02 cháu Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013, Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016 cho bà Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[2.3] Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị T không yêu cầu ông Mang V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Thị T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm do thuộc diện hộ cận nghèo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị T. Bà Thị T được ly hôn ông Mang V.

2. Về con chung: Giao cho bà Thị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Mang Thị N, sinh ngày: 29/01/2013, Mang Thị Phương N1, sinh ngày: 19/01/2016.

- Ông Mang V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Thị T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Thị T không phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm do thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND khu vực 7 - Khánh Hòa;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Khánh Hòa;
  • - UBND xã Lâm Sơn, tỉnh Khánh Hòa;
  • - Lưu: AV, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khải Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Thị T và ông Mang V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger