Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/DS-PT

Ngày 22/01/2026

“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ

Ông Trần Đình Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2025/TLPT-DS, ngày 25 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 01 năm 2026. Giữa các đương sự:

Đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Võ Đ, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1961.

Cùng địa chỉ: Số nhà 345 P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Đồng bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979 và chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1984.

Cùng địa chỉ: Tổ 7, phố Tân Tiến, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Bùi Thị N, sinh năm 1949.

Địa chỉ: P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

(Ông Đ, bà S, anh H đều có mặt,

Chị T, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, đồng nguyên đơn là ông Nguyễn Võ Đ bà Nguyễn Thị S cùng thống nhất trình bày:

    Năm 1992 gia đình ông bà được nhà nước giao sử dụng diện tích 120m² đất ở, với chiều ngang 06 mét theo chiều mặt đường, chiều dài 20 mét, tại thửa đất số 102-3, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại xã Sơn Hùng, huyện T (Nay thuộc P, xã T). Sau khi được giao đất gia đình ông Đ đã xây dựng 01 nhà 02 tầng kiên cố chiều rộng 5 mét, chiều sâu 20 mét, còn để lại 1 mét đất giáp với thửa đất của gia đình ông bà N, T1 để lại dùng làm lối đi ra vườn. Năm 1997 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất trên cho gia đình ông. GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyễn Võ Đ. Năm 2004 gia đình ông Đ được cấp đổi lại GCNQSDĐ, sau khi cấp đổi diện tích tăng đất lên là 125,8m² (Tăng hơn lên 5,8m² là do nhà nước điều chỉnh con đường đi phía trước thửa đất của gia đình ông) lúc này là thửa đất số 14-4, tờ bản đồ số 17, đứng tên GCNQSDĐ đứng tên vợ ông là bà Nguyễn Thị S. Năm 2017 gia đình ông Đ, bà S nhận chuyển nhượng từ ông Phán, bà Lan 78m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất 49-2-15, tờ bản đồ số 17 và cùng năm đó gia đình ông được UBND huyện T hợp thửa đối với thửa đất số 14-4 được cấp đổi lại năm 2004 với thửa đất số 49-2-15, lúc này là thửa đất số 14-4, tờ bản đồ số 17, diện tích 203,8m² (125,8m² đất ở; 78m² đất trồng cây lâu năm). Ngày 19/12/2017 gia đình ông Đ, bà S được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Đ, bà S. Năm 1993 gia đình ông bà N T1 làm nhà lấn sang phần đất để làm lối đi của gia đình ông Đ, khi gia đình ông Đ phát hiện đã yêu cầu ông T1 bà N trả lại cho gia đình ông diện tích đất đã lấn chiếm, ông T1 khi còn sống đã nói với gia đình ông Đ, cho gia đình ông T1 mượn để sử dụng tạm, khi nào gia đình ông Đ cần thì gia đình ông bà N T1 sẽ trả lại đất cho gia đình ông Đ. Gia đình ông Đ đã đòi đất bên phía gia đình ông bà N T1 nhiều lần nhưng phía gia đình ông bà N T1 không trả lại. Nay căn nhà của gia đình ông xuống cấp nên có nhu cầu xây mới, gia đình ông Đ đã làm việc với gia đình ông T1 (ông T1 nay đã chết). Hiện nay diện tích đất này do anh H con trai ông bà N T1 quản lý, để yêu cầu anh H là con của ông T1 trả lại cho gia đình ông Đ phần đất đã lấn chiếm, nhưng phía gia đình anh H không hợp tác, còn thách thức. Ông Đ đề nghị Toà án nhân dân huyện T (Nay là Toà án nhân dân khu vực 7), buộc gia đình anh H phải trả lại cho gia đình ông toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm là 0,43m² theo kết quả xem xét thẩm định của Toà án nhân dân huyện T (Nay là Toà án nhân dân khu vực 7) ngày 17/4/2025 đang nằm trong diện tích đất 207,9m² đất của gia đình anh H, chị T (Cụ thể là nằm tại phần móng của ngôi nhà cấp bốn của gia đình anh H), anh H, chị T phải cắt phần móng của ngôi nhà cấp bốn của anh H và chị T, (ngôi nhà này hiện nay bà N mẹ đẻ anh H đang trực tiếp quản lý và sử dụng).

  2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, đồng bị đơn anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T cùng thống nhất trình bày:

    Năm 2021 vợ chồng anh H, chị T được bố mẹ đẻ anh H là ông Nguyễn Xuân T1 và bà Bùi Thị N tặng cho quyền sử dụng đất với diện tích là 209,7m² tại thửa đất số 14-3, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất tại P, TT T, sau khi được tặng cho vợ chồng anh H đã làm thủ tục sang tên thửa đất đứng tên vợ chồng anh H. Thời điểm vợ chồng anh H, chị T làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ từ ông T1, bà N là bố mẹ đẻ anh H sang tên vợ chồng anh H không ai có ý kiến gì về mốc giới, diện tích thửa đất. Đến tháng 3/2023 gia đình ông bà S - Đ, cho rằng gia đình anh H lấn chiếm diện tích đất của gia đình ông Đ, bà S. Gia đình anh H đã được UBND thị trấn T, huyện T mời đến làm việc và xác định lại mốc giới diện tích thửa đất tại thực địa. Kết quả đo đạc giữa nhà anh H và nhà ông Đ, bà S cụ thể như thế nào anh không nắm được.

    Nay gia đình ông Đ, bà S khởi kiện gia đình anh H phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm. Quan điểm của anh H gia đình anh không lấn đất của ông Đ, bà S, nếu có việc lấn chiếm đất của ông Đ, bà S thì anh nhất trí trả lại.

  3. Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N có quan điểm trình bày: Năm 1992 gia đình bà N được nông trường Phú Sơn giao cho diện tích đất ở 120m². Chiều rộng là 6 mét mặt đường, chiều sâu là 20 mét chạy dài. Sau khi giao đất đến năm 1993 gia đình bà N đã làm nhà và được cấp GCNQSDĐ vào năm 1997. Năm 2017 gia đình bà N có mua thêm của gia đình ông Nguyễn Văn Phán, bà Nguyễn Thị Hương Lan một diện tích đất vườn (bà N không nhớ diện tích cụ thể), phía sau thửa đất mà bà N được nông trường Phú Sơn giao đất năm 1992. Sau khi mua thêm diện tích đất của ông Phán, bà Lan gia đình bà N đã hợp thửa đất đứng tên bà N và ông T1. Đến năm 2021 vợ chồng bà N đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất của vợ chồng bà N sang tên cho anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T (là con trai và con dâu của bà).

    Quá trình gia đình bà làm nhà không có tranh chấp về mốc giới diện tích thửa đất với gia đình ông Đ, bà S. Gần đây mới phát sinh tranh chấp. Quan điểm của bà N, bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

  4. Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án số 16/2025/QĐ-SCBA ngày 22/10/2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án số 17/2025/QĐ-SCBA ngày 24/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ quyết định:

    Căn cứ cứ khoản 4 Điều 5, khoản 1 Điều 11, khoản 5 khoản 8 Điều 26, khoản 1, 5 Điều 31; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Áp dụng các Điều 163, Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 156; Điều 157; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 26, của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Xử:

    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S.
    2. Buộc anh Nguyễn Thanh H, chị Trần Thị Minh T phải trả cho ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S số tiền 5.074.000đ (Năm triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn đồng) là giá trị phần diện tích đất đã lấn chiếm 0,43m², tại thửa đất số 14-4 tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất tại P, xã T, tỉnh Phú Thọ.

      Giao cho anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T được sử dụng diện tích 0,43m² theo bản trích đo hiện trạng ngày 17/4/2025 của Toà án nhân dân huyện T (Nay là Toà án nhân dân khu vực 7). Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về đất đai để chỉnh lý và cấp lại diện tích sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Thanh H chị Trần Thị Minh T phải trả cho ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S số tiền là 11.400.000đ (Mười một triệu, bốn trăm nghìn đồng).
    4. Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, quyền đề nghị thi hành án, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định pháp luật.

  5. Nội dung kháng cáo:

    Ngày 06/10/2025, đồng bị đơn là anh Nguyễn Thanh H kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, đề nghị:

    • Căn cứ vào đâu mà Tòa khẳng định gia đình anh lấn chiếm đất gia đình ông bà Đ - S.
    • Cần làm rõ cơ sở nào mà Tòa án khu vực 7 khẳng định: Các gia đình được cấp đất trước đây đều được cấp đất mặt đường 6m như nhau, hiện tại diện tích đất thực tế có đúng là diện tích đất được giao ban đầu không.
    • Kiểm tra lại hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ (bìa đỏ) sang GCNQSDĐ (bìa hồng) thực hiện có đúng quy định không.
    • Cần làm rõ căn cứ vào đâu mà Tòa kết luận nhà anh lấn chiếm 0,43m² đất của ông bà Đ - S.
    • Cần làm rõ diện tích đất mà ông bà Đ - S cho rằng nhà anh lấn chiếm có nằm ngoài diện tích đất mà nhà nước đã cấp và công nhận cho anh theo bản đồ địa chính về đất đai đã được số hóa trên dữ liệu của nhà nước về đất đai không.
    • Bảo vệ và công nhận quyền sở hữu diện tích đất và các tài sản gắn liền với đất của anh H đã được cấp GCNQSDĐ.
  6. Quan điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Vẫn giữ nguyên sự thỏa thuận và đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên hòa giải ngày 30/12/2025.
  7. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa:

    Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.

    Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 300 của BLTTDS.

    Do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và đạo đức xã hội. Đề nghị HĐXX: Sửa bản án sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo nội dung thỏa thuận ngày 30/12/2025.

    Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu án phí phúc thẩm.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi bên phải chịu ½ án phí là 150.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Đồng bị đơn là anh Nguyễn Thanh H nộp đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, với 6 nội dung nêu trên mặc dù nội dung kháng cáo không cụ thể, nhưng được hiểu là kháng cáo toàn bộ bản án, đơn kháng cáo còn trong thời hạn. Việc cấp sơ thẩm không kiểm tra làm rõ nội dung kháng cáo theo Điều 274 BLTTDS, cần rút kinh nghiệm. Do vậy cần được thụ lý để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
    2. [1.2] Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì các bên đề nghị được thỏa thuận hòa giải. Thấy rằng mặc dù theo quy định chương XVI của BLTTDS không quy định, nhưng một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTDS là hòa giải trong tố tụng dân sự quy định tại Điều 10 của BLTTDS là “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Ngày 30/12/2025 các bên đương sự đề nghị Tòa án lập biên bản hòa giải thành công về nội dung giải quyết vụ án có liên quan đến kháng cáo theo Điều 293 BLTTDS. Do vậy theo quy định thì Tòa án mở phiên tòa xét xử để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  2. [2] Về nội dung kháng cáo được hòa giải thành:

    Xét nội dung kháng cáo toàn bộ bản án của anh Nguyễn Thanh H đề nghị với 6 nội dung nêu trên về bản chất là đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng nội dung tranh chấp đã được hòa giải thành ngày 30/12/2025 với các nội dung:

    1. [2.1] Căn cứ theo sơ đồ hiện trạng thửa đất số 14-3, 14-4; tờ bản đồ số 17 do Công ty cổ phần Xây dựng Đại Bảo Phát tiến hành đo vẽ ngày 17/4/2025. Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T nhất trí trả lại cho nhà ông Nguyễn Võ Đ và bà Nguyễn Thị S phần đất chỉ giới từ 3-4 là 0,05m và chỉ giới từ 5-6 là 0,05m (theo sơ đồ bản vẽ). Diện tích tranh chấp 3,4,5,6,3 là 0,3m².
    2. [2.2] Tại Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ quyết định: “Buộc anh Nguyễn Thanh H chị Trần Thị Minh T phải trả cho ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S số tiền là 11.400.000 đồng chi phí tố tụng”. Nay ông Đ bà S tự nguyện chịu số tiền 5.700.000 đồng, anh H chị T cùng phải chịu 5.700.000 đồng. Cùng ngày chị T và anh H đã thanh toán đủ số tiền 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) cho ông Đ và bà S.
  3. [3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, thấy rằng: Do có sự thỏa thuận mới của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm không vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm với lỗi khách quan để công nhận sự thỏa thuận đó.
  4. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H đã được thỏa thuận nên anh H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do các bên đã thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm, nên các bên đương sự phải chịu ½ án phí là 150.000 đồng. Nhưng do ông Đ và bà S là người cao tuổi đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định.
  6. [5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 300 của BLTTDS.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T nhất trí trả lại cho nhà ông Nguyễn Võ Đ và bà Nguyễn Thị S phần đất có chỉ giới 3-4 là 0,05m và chỉ giới 5-6 là 0,05m, có diện tích là 0,3m² theo chỉ giới 3,4,5,6,3 của sơ đồ hiện trạng thửa đất số 14-3, 14-4; tờ bản đồ số 17 do Công ty cổ phần Xây dựng Đại Bảo Phát tiến hành đo vẽ ngày 17/4/2025, được chỉnh lý theo thỏa thuận ngày 30/12/2025 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T thanh toán trả cho ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S số tiền chi phí tố tụng là 5.700.000 đồng. Xác nhận ngày 30/12/2025 chị T và anh H đã thanh toán đủ số tiền 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) cho ông Đ và bà S.

Các bên đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về đất đai để chỉnh lý và cấp lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng. Xác nhận anh H đã nộp đủ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003683 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Minh T cùng phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Võ Đ, bà Nguyễn Thị S.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 7 - Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Phú Thọ;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2026/DS-PT ngày 22/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 19/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Võ Đức - Anh Nguyễn Thanh Hải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger