Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 19/2026/DS-PT

Ngày: 12 – 01 – 2026

V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Dũng

Bà Lê Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ : Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 456/2025/TLDS-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST, ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân dân khu vực 9 - thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1011/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Ấp P, xã A, thành phố Cần Thơ

Chỗ ở hiện nay: Số A, đường số H, Khu đô thị E, phường P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T: Ông Nguyễn Văn B là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C.

Địa chỉ: Số A đường H, phường S, thành phố Cần Thơ . Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Dương Thị Đ (tên gọi khác: Cẩm Đ1), sinh năm: 1974

Địa chỉ: Ấp V, xã C, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1967

Địa chỉ: Số A đường T, phường P, thành phố Cần Thơ. (Theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2025). Có mặt.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Huỳnh Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T trình bày: Vào ngày 24/4/2019 ông Huỳnh Văn T với bà Dương Thị Đ có ký hợp đồng kinh tế (hai bên tự lập không có công chứng, chứng thực), phía ông T cho bà Dương Thị Đ thuê quán số 333, toạ lạc tại ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Mục đích của bà Dương Thị Đ thuê để kinh doanh quán ăn gia đình. Thời hạn cho thuê là 05 năm kể từ ngày 24/4/2019. Giá thuê và phương thức thanh toán tại Điều 3 của hợp đồng có nêu rõ: Giá thuê: 02 năm đầu: mỗi tháng 7.000.000 đồng; 02 năm tiếp theo: mỗi tháng 8.000.000 đồng; 01 năm cuối: mỗi tháng 9.000.000 đồng. Phương thức thanh toán: Tiền đặt cọc: 60.000.000 đồng; Mỗi tháng vào ngày 22 bà Đ có nghĩa vụ trả tiền thuê cho ông T.

Sau khi ký kết hợp đồng, thời gian đầu phía bà Đ thực hiện đúng theo thoả thuận, bà Đ luôn trả tiền thuê đầy đủ cho ông T. Nhưng đến tháng 02/2023 bà Dương Thị Đ cố tình không thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận, bà không trả tiền thuê quán và không sửa chữa phần hư hỏng, tài sản bị mất theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng. Đến tháng 4/2023 bà Dương Thị Đ có viết giấy cho ông T, bà Đ xin nợ lại tiền thuê quán của ông T tháng 02 và tháng 3/2023, bà Đ cam kết từ tháng 4/2023 trở về sau hàng tháng bà sẽ thanh toán đầy đủ. Mặc dù bà Đ có cam kết nhưng thực tế từ tháng 02/2023 trở về sau bà Dương Thị Đ không trả tiền thuê quán và không sửa chữa phần quán bị hư hỏng.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu: Buộc bà bà Dương Thị Đ có trách nhiệm thanh toán tiền thuê quán cho ông T là 15 tháng, tính từ tháng 02/2023 đến tháng 4/2024 số tiền là: 132.000.00 đồng. Buộc bà Dương Thị Đ phải trả lãi suất cho ông T, tính từ tháng 02/2023 cho đến tháng 4/2024 lãi chậm trả theo Ngân hàng quy định; Buộc bà Dương Thị Đ phải sửa chữa những phần hư hỏng, bồi thường tài sản của quán bị mất, gồm: Một cái chòi ăn có giá 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng); Hai cái bè nổi đãi tiệc chi phí sửa chữa là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng); Hai phòng karaoke (trong phòng tài sản bị mất: 01 tivi hiệu Samsung 50 IN – 01 đầu đĩa hiệu DVD 5 số - Bộ Â và dàn lọc tiếng – Bộ S1) có tổng giá trị là 84.000.000 đồng (tám mươi bốn triệu đồng); Một sảnh mái bạc có giá trị là 11.000.000 đồng; Dọn dẹp lại cây xanh giá là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng); 01 hầm cá tra khoảng 600 con, mỗi con nặng 3kg, giá thị trường 01 kg cá là 20.000 đồng (600 x 3kg/con = 1.800 kg x 20.000d/kg = 36.000.000 đồng). Tổng giá trị tài sản nguyên đơn yêu cầu là 208.000.000 đồng (hai trăm linh tám triệu đồng).

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Dương Thị Đ (tên thường gọi: C) trình bày: Bà Đ thừa nhận vào ngày 24/4/2019, bà Dương Thị Đ có ký hợp đồng “Hợp đồng kinh tế” thuê quán có sẵn của ông T để kinh doanh ăn uống gia đình, thời hạn thuê, phương thức thanh toán, đặc cọc tiền thuê theo như ông T trình bày là đúng.

Khi hợp đồng thuê quán thực hiện được đến tháng 4/2023 (04 năm) do không có nhu cầu kinh doanh nữa nên bà Đ có thông báo cho ông T chấm dứt hợp đồng. Từ tháng 4/2023 cho đến nay bà Đ không có kinh doanh cũng như không còn quản lý quán nữa. Vào ngày 22/4/2023, bà Đ có chuyển tiền cho ông T thanh toán tiền thuê quán tháng 4/2023, bà Đ chỉ còn nợ ông T tiền thuê quán tháng 02 và tháng 3 năm 2023. Bà Đ còn nợ ông T 02 tháng tiền thuê quán nêu trên với số tiền là 16.000.000 đồng. Do bà Đ đã thông báo chấm dứt hợp đồng với ông T từ tháng 4/2023 nên bà Đ không có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quán năm cuối (từ tháng 4/2023 đến tháng 4/2024). Riêng ông Huỳnh Văn T còn giữ tiền đặt cọc của bà Đ là 60.000.000 đồng nên bà Đ thống nhất trừ số tiền còn nợ ông T 02 tháng tiền thuê quán là 16.000.000 đồng. Như vậy, ông T có trách nhiệm trả lại tiền đặt cọc cho bà Đ là 60.000.000 đồng – 16.000.000 đồng = 44.000.000 đồng, nên ông T khởi kiện buộc bà Đ trả cho ông T số tiền nợ thuê quán từ tháng 02/2023 đến tháng 4/2024 và lãi suất theo quy định thì bà Đ không chấp nhận.

Khi ký hợp đồng thuê quán bà Đ có nhận cơ sở thiết bị của ông T như sau: 01 cái chòi ăn; 02 cái bè đãi tiệc; 02 phòng Karaoke và các thiết bị trong phòng như: Tivi, đầu đĩa hiệu DVD 5 số - bộ Â1, dàn lọc tiếng và bộ S1; 01 sảnh mái bạc; 05 cái chòi. Bà Đ không có nhận bảo quản chăm sóc cây xanh và không có nhận ao nuôi cá. Trong hợp đồng không có thỏa thuận việc bà Đ nhận ao nuôi cá, số lượng bao nhiêu và bà Đ cũng không hợp đồng thuê cây xanh của ông T. Sau khi ký hợp đồng với ông T, bà Đ có tiếp quản cơ sở trang thiết bị đã nêu trên thì toàn bộ cơ sở trang thiết bị đã xuống cấp do ông T đã qua sử dụng nhiều năm. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất khi kinh doanh bà Đ phải đầu tư sửa chữa lại cơ sở trang thiết bị như sau: Nhà ăn: Trước đó ông T chải cao su, lát gạch tàu, cột tre, mái lợp lá, do cây trồng ông T xung quanh rễ ăn vào nền bị bun chóc nên bà Đ đầu tư lát lại toàn bộ gạch men, thay cột tre bằng cột cây xà gồ, mái lợp lại bằng tôl kẽm và xây thêm nhà vệ sinh. Bà Đ không có sử dụng 02 cái bè, do thời gian lâu nên bị xuống cấp hư hỏng. Bà Đ cũng không có sử dụng 02 phòng Karaoke để kinh doanh do thời gian không sử dụng nên bị xuống cấp. Riêng 01 cái tivi 50in nhãn hiệu Samsung + 01 đầu đĩa hiệu DVD 5 số + bộ âm li, dàn lọc tiếng và bộ S1 không sử dụng nên bà Đ chuyển vào nhà kho của ông T nên không có mất như ông T khởi kiện. 01 sảnh mái bạc để đậu xe do sử dụng thời gian bị hư hỏng. Toàn bộ cây xanh trong khuôn viên quán ông T không bị chết, không bị mất và bà Đ đã giao trả quán từ tháng 4/2023 cho đến nay, thời gian không dọn dẹp, mọc um tùm nên bà Đ không có nghĩa vụ phải dọn dẹp cây xanh cho ông T. Bà Đ có đầu tư xây dựng lại 05 cái chòi đãi khách, khi tiếp nhận thì toàn bộ chòi lá đã xuống cấp nên bà Đ xây dựng mới lại. Hơn nữa do kinh doanh không thuận lợi do điều kiện khách quan: Dịch bệnh, địa phương có nhiều quán kinh doanh cạnh tranh...Toàn bộ chi phí bà Đ phải đầu tư sửa chữa, xây dựng lại cơ sở vật chất trang thiết bị khoảng 210.000.000 đồng. Do chi phí đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị cũng như sửa chữa xây dựng lại nhiều hạn mục của quán đến nay ông T đã tiếp nhận lại quán và giá trị thực tế về cơ sở vật chất trang thiết bị sau khi được bà Đ đầu tư thì tăng giá trị so với giá trị ban đầu ông T giao cho bà Đ. Toàn bộ tiền bà Đ đầu tư xây dựng, sửa chữa kiên cố, bà Đ thống nhất nhận lại 50% giá trị mà bà Đ đã đầu tư nên bà Đ yêu cầu ông T hoàn trả lại cho bà Đ 50% giá trị bà Đ đầu tư với số tiền là 105.000.000 đồng.

Khi bàn giao lại quán cho ông T bà Đ có mua thêm 01 cái máy lạnh và 01 bộ salon, hiện tại tài sản trên do ông T đang quản lý nên bà Đ yêu cầu ông T giao lại cho bà Đ 01 cái máy lạnh và 01 bộ salon. Bà Đ không có cam kết sửa chữa lại quán cho ông T.

Bà Dương Thị Đ phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Bà Dương Thị Đ yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết không chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T; Bà Dương Thị Đ yêu cầu ông Huỳnh Văn T có trách nhiệm trả lại tiền đặt cọc còn lại cho bà Đ là (60.000.000 đồng – 16.000.000 đồng = 44.000.000 đồng); Yêu cầu ông Huỳnh Văn T hoàn trả cho bà Đ toàn bộ tiền bà Đ đầu tư xây dựng, sửa chữa kiên cố, bà Đ thống nhất nhận lại 50% giá trị mà bà Đ đã đầu tư nên bà Đ yêu cầu ông T hoàn lại cho bà Đ 50% giá trị bà Đ đầu tư với số tiền là 105.000.000 đồng (một trăm lẻ năm triệu đồng).

Bà Dương Thị Đ yêu cầu ông Huỳnh Văn T giao lại cho bà Đ 01 máy lạnh và 01 bộ salon.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST, ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân dân khu vực 9 - thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T: Buộc bị đơn bà Dương Thị Đ (tên gọi khác: Cẩm Đ1) hoàn trả tiền thuê quán cho nguyên đơn ông Huỳnh Văn T là 64.000.000 đồng (sáu mươi bốn triệu đồng) và lãi suất chậm trả từ ngày 23/4/2023 đến ngày xét xử là 01/8/2025 là 14.688.000 đồng (mười bốn triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T về việc yêu cầu bị đơn bà Dương Thị Đ (tên gọi khác: Cẩm Đ1) phải sửa chữa những phần hư hỏng, bồi thường tài sản của quán bị mất, gồm: Một cái chòi ăn; Hai cái bè nổi đãi tiệc; Hai phòng karaoke (trong phòng tài sản bị mất: 01 tivi hiệu Samsung 50 IN – 01 đầu đĩa hiệu DVD 5 số - Bộ Â và dàn lọc tiếng – Bộ S1); Một sảnh mái bạc; Dọn dẹp lại cây xanh; 01 hầm cá tra khoảng 600 con, mỗi con nặng 3kg, giá thị trường 01 kg cá là 20.000 đồng (600 x 3kg/con = 1.800 kg x 20.000đồng/kg = 36.000.000 đồng).

Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Dương Thị Đ (tên gọi khác: C).

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/8/2025 nguyên đơn Huỳnh Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại về tài sản 208.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu bị đơn bồi thường tài sản bị hư hỏng, bị mất gồm có 01 chòi ăn trị giá 25.000.000đ, sửa lại 5 căn chòi trị giá 100.000.000đ, 02 cái bè nổi đãi tiệc sửa chữa 40.000.000đ, tài sản bị mất trong phòng karaoke gồm có 01 ti vi Samsung 50IN – 01 đầu đĩa hiệu DIV 05 số - bộ âm li và dàn lọc tiếng – bộ S2 lông trị giá 84.000.000đ, phần thu nhập của 2 phòng karaoke 1.000.000đ/ngày; 01 sảnh bạc có giá trị 11.000.000đ, Dọn dẹp lại cây xanh có giá 12.000.000₫ và 01 hầm cá tra khoảng 600 con, mỗi con 3kg, giá thị trường 01kg = 20.000đ tương đương số tiền 36.000.000đ. Tổng cộng 208.000.000₫.

Đại diện ủy quyền của bị đơn không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại thời điểm nhận tài sản thuê thì đã có nhiều tài sản bị hư hỏng, hai bên đã trả lại tài sản đúng theo số lượng được thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trợ giúp viên – người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Các đương sự thừa nhận tự nguyện giao kết hợp đồng, quá trình ông T bàn giao tài sản cho bà Đ thì hiện trạng tài sản còn tốt, đủ các điều kiện cho bà Đ hoạt động kinh doanh. Việc bị đơn cho rằng không sử dụng bè nổi để hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thực tế, bị đơn đã tự ý thay đổi hiện trạng tài sản mà không thông báo cho nguyên đơn biết, cụ thể là đổi từ mái lá sang mái tol là vi phạm hợp đồng; Đối với hầm cá tra, bà Đ có hỏi mượn ông T để hoạt động kinh doanh. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng theo các quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Các đương sự cùng thừa nhận ngày 24/4/2019 ông T và bà Đ có ký kết hợp đồng kinh tế ngày 24/4/2019 (BL: 37), ngoài ra các đương sự không ký bất cứ hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng nào khác, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Tại Điều 1 nội dung hợp đồng ngày 24/4/2019 thì ông T cho bà Đ thuê 01 phòng máy lạnh, 2 phòng karaoke, 02 bè đãi tiệc, 06 chòi đã tiệc, 01 sảnh đãi tiệc, 01 phòng ngủ. Hợp đồng không ghi nhận hiện trạng tài sản như thế nào; Ngày 24/4/2024 các bên làm biên bản thanh lý hợp đồng thuê ngày 24/4/2019 và giao nhận tài sản có sự chứng kiến của chính quyền địa phương (BL: 38). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự cùng thống nhất biên bản trên, ông T cũng thừa nhận đã nhận đủ số lượng tài sản theo hợp đồng kinh tế đã ký, tuy nhiên các tài sản bị thay đổi hiện trạng, hư hỏng hoặc mất, cụ thể là bà Đ tự ý tháo dỡ mái lá thay bằng mái tol của quán, các chồi ăn, bè nổi bị hư hỏng nên ông T phải sửa chữa lại. Xét thấy, tại hợp đồng kinh tế ngày 24/4/2019 các bên chỉ ghi nhận số lượng tài sản cho thuê, không ghi cụ thể hiện trạng tài sản thuê như thế nào, sau khi ông T vừa chấm dứt hợp đồng thuê với bà Đ thì ông cũng đã cho người khác tiếp tục thuê lại quán. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn làm thay đổi hiện trạng tài sản nên phải bồi thường là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu kháng cáo, yêu cầu bị đơn bồi thường 01 ti vi Samsung 50IN – 01 đầu đĩa hiệu DIV 05 số - bộ âm li và dàn lọc tiếng – bộ S2 lông 84.000.000đ; Dọn dẹp lại cây xanh có giá 12.000.000đ và 01 hầm cá tra khoảng 600 con, mỗi con 3kg, giá thị trường 01kg = 20.000đ tương đương số tiền 36.000.000đ. Xét thấy, những tài sản và hạng mục trên không được các bên thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế nên Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[2.3] Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường phần thu nhập của 2 phòng karaoke 1.000.000đ/ngày. Xét thấy yêu cầu trên chưa được ông T khởi kiện trong giai đoạn cấp sơ thẩm, chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý theo thông báo thụ lý ngày 26/7/2024 (BL: 06) nên không thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

[3] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T về việc yêu cầu bị đơn bà Dương Thị Đ (tên gọi khác: Cẩm Đ1) phải sửa chữa những phần hư hỏng, bồi thường tài sản của quán bị mất, gồm: Một cái chòi ăn; Hai cái bè nổi đãi tiệc; Hai phòng karaoke (trong phòng tài sản bị mất: 01 tivi hiệu Samsung 50 IN – 01 đầu đĩa hiệu DVD 5 số - Bộ Â và dàn lọc tiếng – Bộ S1); Một sảnh mái bạc; Dọn dẹp lại cây xanh; 01 hầm cá tra khoảng 600 con, mỗi con nặng 3kg, giá thị trường 01 kg cá là 20.000 đồng (600 x 3kg/con = 1.800 kg x 20.000đồng/kg = 36.000.000 đồng) là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới có giá trị chứng minh nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên ông T được miễn nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Văn T.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 01/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 12 tháng 01 năm 2026.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đào Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Số bản án: 19/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger