|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 185/2025/HS-PT Ngày: 31/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 180/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Minh C, Lê Đức T, Lê Đức V do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2025/QĐXXPT-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/12/1998 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; (Nay là thôn L, phường B, tỉnh Khánh Hòa); Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; (Nay là tổ dân phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Lê Thị L, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.
-
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Đức T, sinh ngày 19/10/1990 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; (Nay là tổ dân phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê B, sinh năm 1957 và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1959; Vợ: Phương Như V1, sinh năm 1992; Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
-
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Đức V, sinh ngày 18/6/1984 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; (Nay là tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê B, sinh năm 1957 và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1959; Vợ: Võ Thị H, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
-
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có các bị cáo Trần Nước N, Nguyễn Minh C1, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị; Không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh C, Lê Đức T, Lê Đức V nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Nước N là người đã 02 lần trộm cắp tài sản, bị kết án 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, N tiếp tục nhiều lần trộm cắp tài sản. N và Nguyễn Minh C1 đã thỏa thuận với nhau N trộm cắp xe mô tô được thì về bán cho C1. Từ ngày 02/10/2024 đến ngày 14/11/2024, N đã 03 lần trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố C để bán cho C1, rồi C1 bán lại để kiếm lời. Cụ thể:
Vụ 1: Khoảng 13 giờ ngày 02/10/2024, tại khu vực cảng cá Đ, thuộc phường C, tỉnh Khánh Hòa, N dùng tuốc nơ vít mở khóa xe, trộm cắp xe mô tô Sirius, màu Đen - Trắng, biển số 79C1-103.91 của ông Phùng Xuân S. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, thực hiện theo thỏa thuận trước đó, N bán xe mô tô này cho C1 với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, C1 bán lại xe mô tô này cho Nguyễn Minh C với giá 3.500.000 đồng để kiếm lời. C1 nói với C xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng C vẫn đồng ý mua giúp cho Lê Đức T với giá 3.500.000 đồng. C nói với T xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua để sử dụng đi làm rẫy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 167 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: xe mô tô trên, trị giá 4.800.000 đồng.
Vụ 2: Khoảng 05 giờ ngày 13/10/2024, tại khu vực cầu L thuộc phường B, tỉnh Khánh Hòa, N trộm cắp xe mô tô Sirius, màu Đen - Xám, biển số 79H1-410.68 (trong tình trạng có chìa khoá trên xe) của ông Lưu Văn T2. Sau đó, thực hiện theo thỏa thuận trước đó, N bán xe mô tô này cho C1 với giá 2.600.000 đồng. Chính bán lại xe mô tô này cho Nguyễn Minh C với giá 4.500.000 đồng để kiếm lời. C1 nói với C xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng C vẫn đồng ý mua giúp cho Lê Đức T với giá 4.500.000 đồng. C nói với T xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng T vẫn đồng ý mua để sử dụng đi làm rẫy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 167 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: xe mô tô trên, trị giá 10.400.0000 đồng.
Vụ 3: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/11/2024, tại khu vực Cảng cá Đ, thuộc phường C, tỉnh Khánh Hòa, N dùng kéo mở khóa điện xe mô tô, mở ở khóa dây bánh xe trước, trộm cắp xe mô tô Sirius, màu Vàng - Đen, biển số 77C1-220.72 của ông Võ Tấn S1. Sau đó, thực hiện theo thỏa thuận trước đó, N bán xe mô tô cho C1 với giá 2.800.000 đồng. Chính bán lại cho Nguyễn Minh C với giá 4.500.000 đồng để kiếm lời. C1 nói với C xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng C vẫn đồng ý mua giúp cho Lê Đức V với giá 4.500.000 đồng. C nói với V xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng V vẫn đồng ý mua để sử dụng đi làm rẫy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 153 ngày 18 tháng 11 nắm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: xe mô tô trên, trị giá 9.400.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSCR-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (Nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa) đã truy tố để xét xử Trần Nước N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Minh C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Minh C, Lê Đức T, Lê Đức V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa đã căn cứ:
-
Đối với bị cáo Nguyễn Minh C: Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Đối với bị cáo Lê Đức T: Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Đối với bị cáo Lê Đức V: Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Đức V 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Trần Nước N, Nguyễn Minh C1 và quyết định về vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/9/2025, các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V kháng cáo xin xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 08/9/2025, bị cáo Nguyễn Minh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh C; giữ nguyên mức án đối với các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V, Nguyễn Minh C làm trong hạn luật định. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V, Nguyễn Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa và đã xét xử các bị cáo về các hành vi như sau: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh C biết rõ việc bị cáo Nguyễn Minh C1 trộm cắp xe mô tô nhưng vẫn mua và bán lại xe cho Lê Đức T, Lê Đức V để kiếm lời. Còn các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V biết rõ là xe trộm cắp mà có nhưng vẫn mua. Do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh C, Lê Đức T, Lê Đức V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh C, Lê Đức T và Lê Đức V:
[4.1] Xét kháng cáo bị cáo Nguyễn Minh C xin giảm nhẹ hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh C không xuất trình tình tiết giảm nhẹ nào khác ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết. Mức án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là không nặng, cũng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh C.
[4.2] Xét kháng cáo các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V xin giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo:
-
- Bị cáo Lê Đức T có tình tiết phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng hai lần mua xe của Nguyễn Minh C2 đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo mua xe với mục đích để có phương tiện đi làm rẫy; hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế; có nhân thân tốt; việc mua xe không có mục đích lợi nhuận, sau khi xét xử đã đến gia đình các bị hại xin khắc phục thêm một khoản tiền cho phía các bị hại. Đối với bị cáo Lê Đức V có 01 lần mua xe của bị cáo Nguyễn Minh C với mục đích mua xe để có phương tiện đi làm rẫy; hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế; có nhân thân tốt, việc mua xe không có mục đích lợi nhuận, sau khi xét xử đã đến gia đình các bị hại khắc phục thêm một khoản tiền cho phía bị hại; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là nhân dân lao động và là lao động chính trong gia đình. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự nên cần chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tự cải tạo cũng đủ tác dụng giáo dục. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V.
[5] Về án phí: Các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào Điều 343; Điều 344; Điều 345; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với Nguyễn Minh C.
[1.2]. Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Căn cứ vào Điều 343; Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2.1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V và sửa một phần Bản án sơ thẩm hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V.
[2.2] Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/12/2025).
Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp bị cáo Lê Đức T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
[2.3] Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Đức V 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/12/2025).
Giao bị cáo Lê Đức V cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp bị cáo Lê Đức V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
[3] Về án phí:
[3.1] Bị cáo Nguyễn Minh C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[3.2] Các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 31 tháng 12 năm 2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Hải |
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tọa |
Bản án số 185/2025/HS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự phúc thẩm (tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 185/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1] Căn cứ vào Điều 343; Điều 344; Điều 345; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [1.1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với Nguyễn Minh C. [1.2]. Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. [2] Căn cứ vào Điều 343; Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [2.1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V và sửa một phần Bản án sơ thẩm hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức V. [2.2] Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/12/2025). Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp bị cáo Lê Đức T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. [2.3] Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Lê Đức V 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/12/2025). Giao bị cáo Lê Đức V cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp bị cáo Lê Đức V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
