|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2026/KDTM-PT Ngày 15/01/2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Văn Luật;
Bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 06/01/2026 và 15/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2 mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 13/2025/TLPT-KDTM ngày 08/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 60/2024/KDTM-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7318/2025/QĐXX-PT ngày 08/12/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 142/2026/QĐPT-HC ngày 06/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1; trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội (nay là phường G, Thành phố Hà Nội);
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu T – Trưởng phòng khách hàng – Chi nhánh thành phố T; địa chỉ: Số 1 đường Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 628/NHNo.TDM-GUQ ngày 23/9/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trương Anh Việt P - Chủ Doanh nghiệp tư nhân S; trụ sở: Số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1942;
- Ông Trương Anh Việt P, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: Số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ông Trương Anh T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Số F, đường P, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà Lê Thị L và ông Trương Anh T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trương Anh Việt P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Nguyên đơn Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố T (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và bị đơn ông Trương Anh Việt P – Chủ Doanh nghiệp tư nhân S, có thỏa thuận và thực hiện Hợp đồng tín dụng số 01-066PN/11/HĐTD ngày 06/08/2011. Các bên thống nhất thỏa thuận Ngân hàng cho vay số tiền 1.300.000.000 đồng; Thời hạn vay 12 tháng; lãi suất tại thời điểm cấp tín dụng: 19,5%/năm; mục đích vay: bổ sung vốn lưu động mua bán nhớt máy.
Để bảo đảm khoản vay nêu trên của bị đơn, bên thứ ba là bà Lê Thị L cùng chồng là ông Trương Văn N đã thế chấp bằng bất động sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất diện tích: 534,2 m², thửa đất số 120, tờ bản đồ số C4-1, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: V 872576, số vào sổ cấp: 01297QSDĐ/TTAT do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện (nay là thành phố) T cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L, theo Hợp đồng thế chấp số 01-066PN/09/HĐTC ngày 23/06/2009, được Phòng Công chứng số 2 công chứng ngày 23/06/2009, số công chứng: 4043, Quyền số: 01TP/CC – SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 24/06/2009 tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T (sau này là thành phố T).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, bị đơn cam kết thực hiện đúng nghĩa vụ nhưng sau đó vẫn không thực hiện. Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết những vấn đề như sau:
- Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn các khoản nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 27/11/2024, như sau: Tiền nợ gốc 985.300.000 đồng; lãi trong hạn: 1.404.843.544 đồng; lãi quá hạn 814.749.322 đồng.
- Buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi kể từ ngày 28/11/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký trên tổng dư nợ gốc. Trường hợp bị đơn không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ nêu trên, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo theo hợp đồng thế chấp đã ký giữa các bên.
- Bị đơn ông Trương Anh Việt P trình bày: Ông Trương Anh Việt P là chủ Doanh nghiệp tư nhân S. Ông P xác nhận doanh nghiệp S có vay theo hợp đồng tín dụng mà nguyên đơn đang khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L và ông Trương Anh T1: Không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ nào.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Anh Việt P trình bày: Ông Trương Anh Việt P là bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi còn sống, ông N và bà L là cha mẹ ruột của ông P đã thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay doanh nghiệp cho ông làm chủ như trình bày của nguyên đơn. Ông N đã chết ngày 27/3/2020 theo Giấy chứng tử số 290/TLKT-BS, ngày 30/3/2020, do UBND phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp. Theo đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N gồm: Vợ là bà Lê Thị L; các con ruột là ông Trương Anh T1 và ông Trương Anh Việt P. Ngoài ra, ông N không có con ruột hay con nuôi nào khác.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 60/2024/KDTM-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:
- Về yêu cầu khởi kiện:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối với bị đơn ông Trương Anh Việt P - Chủ doanh nghiệp tư nhân S về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Về nghĩa vụ thanh toán:
Buộc bị đơn ông Trương Anh Việt P – Chủ doanh nghiệp tư nhân S có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đến hết ngày 27/11/2024, cụ thể như sau: Tiền nợ gốc 985.300.000 đồng; lãi trong hạn: 1.404.843.544 đồng; lãi quá hạn 814.749.322 đồng. Tổng số tiền là 3.204.892.866 đồng.
Kể từ ngày 28/11/2024, ông Trương Anh Việt P - Chủ doanh nghiệp tư nhân S có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản tiền lãi, phạt vi phạm cho nguyên đơn Ngân hàng N1 trên số dư nợ gốc các thỏa thuận tại từng hợp đồng tín dụng nêu trên ký kết giữa các bên.
Trường hợp ông Trương Anh Việt P- Chủ doanh nghiệp tư nhân S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì nguyên đơn Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp dưới đây để đảm bảo thi hành án: Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất số 120, Tờ bản đồ số C4-1, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: V 872576, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01297QSDĐ/TTAT do UBND huyện (nay là thành phố) T cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L, theo Hợp đồng thế chấp số 01-066PN/09/HĐTC ngày 23/06/2009, được Phòng Công chứng số 2 công chứng ngày 23/06/2009, số công chứng: 4043, quyền số: 01TP/CC – SCC/HĐGD.
Nếu tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ để trả nợ thì ông Trương Anh Việt P - Chủ doanh nghiệp tư nhân S tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ đến khi hoàn thành nghĩa vụ nêu trên. Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L trong trường hợp bị đơn thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mãi tài sản thế chấp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thi hành án cho các bên đương sự.
Ngày 23/12/2024, bị đơn ông Trương Anh Việt P có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 60/2024/KDTM-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) theo hướng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn yêu cầu phía nguyên đơn Ngân hàng xem xét giảm tiền lãi vì lý do khách quan: bên vay và người thế chấp tài sản đã cố gắng hoàn thành thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất và bán tài sản thế chấp để trả các khoản nợ, nhưng do cơ hành chính thu hồi GCNQSDĐ nên không thể làm thủ tục thừa kế. Đây là lỗi của cơ quan hành chính và là lý do khách quan của khách hàng nên yêu cầu giảm lãi của bị đơn là có cơ sở. Tuy nhiên, Ngân hàng không đồng ý và các bên không thoả thuận được với nhau về khoản nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, do phát sinh tình tiết mới là thông báo thu hồi GCNQSDĐ của UBND thành phố T (cũ) chưa được UBND trả lời, cung cấp thông tin đầy đủ và hồ sơ thi hành án của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến việc thi hành án đối với thửa đất số 120, tờ bản đồ C4-1, có liên quan đến Ngân hàng TMCP A mà cấp sơ thẩm chưa thu thập được dẫn đến quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không thể thi hành được, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 15 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hướng giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, tại hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận Tòa án giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi bên cho vay có trụ sở thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương (cũ). Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- [2] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Trương Anh Việt P được thực hiện trong thời hạn luật định và đã đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên việc kháng cáo là hợp lệ.
- [3] Về việc tham gia tố tụng của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L và ông Trương Anh T1 vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
- [4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trương Anh Việt P với lý do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( GCNQSDĐ) số V 872576, số vào sổ 01297QSDĐ/TTAT do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Bình Dương (cũ) cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L là cấp trùng thửa đất số 120, tờ bản đồ số C4-1, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo GCNQSDĐ số 210006, số vào sổ: 165/GCN/1999 do UBND tỉnh B cấp ngày 08/5/1999 cho ông Trương Văn N, bà Lê Thị L. Hiện nay, UBND thành phố T đã ra quyết định thu hồi GCNQDĐ cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L, còn đối với GCNQDĐ cấp ngày cấp ngày 08/5/1999 cho ông Trương Văn N, bà Lê Thị L hiện đang được tiến hành các thủ tục thi hành án đối với người được thi hành án là Ngân hàng thương mại cổ phần A – Chi nhánh B. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên xử Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu phát mãi quyền sử dụng đất đã thế chấp để thu hồi nợ sẽ không thể thi hành án được.
- [5] Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bị đơn ông Trương Anh Việt P không cung cấp tài liệu chứng cứ hoặc trình bày liên quan đến tình tiết GCNQSDĐ số V 872576, số vào sổ 01297QSDĐ/TTAT cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L là cấp trùng thửa đất đã cấp trước đây cho ông Trương Văn N, bà Lê Thị L. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, ông Trương Anh Việt P đã cung cấp tài liệu, chứng cứ là Thông báo số 226/TB-UBND ngày 29/7/2019 của UBND thị xã T (cũ) về việc thu hồi GCNQSDĐ số V 872576, số vào sổ 01297QSDĐ/TTAT cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L.
- [6] Ngày 04/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân nhân Thành phố Hồ Chí Minh) đã có Công văn số 20/TA-DS gửi UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương về việc đề nghị UBND thành phố T cung cấp thông tin đối với việc thu hồi GCNQSDĐ số V 872576, số vào sổ 01297QSDĐ/TTAT cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L.
- Ngày 20/8/2025, Tòa án nhân dân nhân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 3288/TATP-THC gửi UBND phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc nhắc UBND phường T cung cấp thông tin theo Công văn số 20/TA-DS ngày 04/6/2025.
- Ngày 25/9/2025, Tòa án nhân dân nhân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 3786/TATP-TKT gửi Chủ tịch UBND phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc nhắc UBND phường T cung cấp thông tin theo Công văn số 20/TA-DS ngày 04/6/2025.
- Phiên tòa ngày 06/01/2026 phải tạm ngừng để Tòa án tiếp tục liên hệ với UBND phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về kết quả xử lý việc thu hồi GCNQSDĐ.
- Tuy nhiên, UBND và Chủ tịch UBND phường T, Thành phố Hồ Chí Minh không trả lời và không cung cấp thông tin cho Tòa án, làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
- [7] Ngày 23/10/2025, Tòa án nhân dân nhân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 4019/TATP-TKT gửi Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cung cấp thông tin thi hành án đối với quyền sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đồ số C4-1, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 15/12/2025, Tòa án nhận được tài liệu, chứng cứ do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp là Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1976/QĐ-CCTHADS ngày 28/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An và các tài liệu, giấy tờ có liên quan. Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 đang tổ chức thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 26/2013/QÐST-KDTM ngày 18/6/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, trong đó có nội dung ông Trương Anh Việt P và bà Nguyễn Thị Út L1 phải trả khoản vay có thế chấp bằng quyền sử dụng đất: 1.600.000.000 đồng nợ gốc, lãi trong hạn 89.955.556 đồng và lãi quá hạn 665.866.667 đồng cho Ngân hàng TMCP A. Tài sản thế chấp bị kê biên, bán đấu giá là quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số 165/GCN/199 cấp ngày 08/5/1999 cho ông Trương Văn N và bà Lê Thị L với diện tích 300 m² đất ở. Tuy nhiên, quá trình cấp GCNQSDĐ số V 872576, số vào số 01297QSDĐ/TTAT cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L với diện tích đất 534m², trong đó có 160m² thổ cư, 374,2m² vườn cho bà Lê Thị L đối với thửa đất số 120, tờ bản đồ C4-1 trùng với vị trí nhà, đất đã được cấp trước đó vào năm 1999. Ngày 29/7/2019, UBND thị xã T ban hành Thông báo số 226/TB-UBND thông báo về việc thu hồi GCNQSDĐ số V 872576, số vào sổ 01297QSDĐ/TTAT cấp ngày 12/11/2003 cho bà Lê Thị L để cấp lại cho bà Lê Thị L cho đúng diện tích thực tế đang sử dụng. Cơ quan thi hành án dân sự cũng đã có Công văn số 953/CCTHADS ngày 18/4/2025 đề nghị Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, tỉnh Bình Dương (cũ) cung cấp thông tin đối với vụ việc nêu trên, nhưng đến nay cơ quan thi hành án dân sự cũng chưa được trả lời.
- [8] Xét thấy, cùng một thửa đất số 120, tờ bản đồ số C4-1, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng lại được cấp 02 (hai) GCNQSDĐ khác nhau và được thế chấp cho 02 tổ chức tín dụng khác nhau để bảo đảm 02 khoản vay khác nhau của ông Trương Anh Việt P. Việc thu thập chứng cứ bổ sung của Tòa án cấp phúc thẩm cho thấy cần làm rõ diện tích đất chính xác thuộc tài sản thế chấp, tính hợp pháp của GCNQSDĐ đã cấp và kết quả xử lý việc thu hồi GCNQSDĐ của cơ quan hành chính mà chưa được bổ sung ngay tại cấp phúc thẩm. Ngoài ra, khi giải quyết vụ tranh chấp thì phải có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP A (bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất cùng thửa đất số 120, tờ bản đồ số C4-1) tham gia tố tụng mới có thể giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Do đó, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ, nhưng do phát sinh chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm nên cần phải huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 15 giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- [9] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc huỷ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- [10] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: ông Trương Anh Việt P không phải chịu án phí phúc thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 296 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Anh Việt P. Hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 60/2024/KDTM-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 15 giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Bị đơn ông Trương Anh Việt P được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008909 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (cũ) (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Lực |
Bản án số 18/2026/KDTM-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2026/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
