TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2025/DS-ST
Ngày: 23/12/2025
V/v "tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Trí, ông Huỳnh Văn Dứt
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1150/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Bà Phan Thị V, sinh năm 1959, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang.
Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1949, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Châu Tuấn K, sinh năm 2000, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp P, xã C, tỉnh An Giang (giấy ủy quyền ngày 15/3/2024) (có mặt).
2. Bị đơn:
Bà Lê Kim K1, sinh năm 1962, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang (có mặt).
Ông Đào Văn N, sinh năm 1964, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh An Giang, địa chỉ: tổ B, ấp M, xã N, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Châu Tuấn K trình bày:
Bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X có phần đất trồng lúa diện tích 4.862m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010, đất tọa lạc ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang). Vào khoảng cuối tháng 7 năm 2022, ông Đào Văn N, bà Lê Kim K1 dùng lưới rào bao chiếm một phần đất diện tích khoảng 80m², cụ thể phần đất có chiều ngang 2m, dài 40m. Phần đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà V, ông X. Nay bà V, ông X yêu cầu ông N, bà K1 di dời hàng rào lưới trả lại diện tích khoảng 80m². Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/01/2025 của Công ty TNHH Đ1 thì diện tích đất của bà V thể hiện là 368,6m² thì bà đồng ý và yêu cầu bà K1, ông N trả lại diện tích phần đất có chiều ngang 2m, dài 40m.
Bị đơn bà Lê Kim K1 trình bày:
Trước đây dì ruột của bà là Nguyễn Thị Q (ở nhà gọi là út Quảnh) có diện tích đất ruộng và đất rẫy, phần đất ruộng thì có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần đất rẫy thì không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó bà Q có bán phần đất rẫy cho ông Năm D ngang 8m (không biết chiều dài do đất cồn), còn lại 8m bán cho ông Năm Đ. Sau đó phần của ông Năm Đ bán cho cho bà V 8m. Phần đất bà V mua từ ông Đ liền sát ranh với phần đất của bà. Diện tích đất của bà đang quản lý sử dụng chiều ngang hơn 10m, chiều dài chưa xác định do đất cồn, đất của bà đang quản lý, sử dụng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay trên đất đang trồng chuối, dừa và phần đất của bà đang rào lưới cước để nuôi gà. Bà yêu cầu Tòa án xác minh đối với chủ đất cũ để xác định bà V mua ngang 8m hay 12m. Bà xác định bà không có lấn chiếm đất của bà V nên không đồng ý theo yêu cầu của bà V.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Châu Tuấn K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông N, bà K1 di dời hàng rào lưới trả lại diện tích 80m² (chiều ngang 2m, dài 40m).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: từ khi thụ lý vụ án vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự, Điều 11, Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X yêu cầu bà Lê Kim K1, ông Đào Văn N do dời hàng rào lưới trả lại diện tích khoảng 80m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X yêu cầu bà Lê Kim K1, ông Đào Văn N trả lại diện tích đất lấn chiếm 80m² (chiều ngang 2m, dài 40m). Căn cứ khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 236 Luật đất đai năm 2024 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết:
Bà V, ông X tranh chấp diện tích đất tọa lạc ấp N, xã N, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo đơn khởi kiện, bà V, ông X yêu cầu bà K1, ông N di dời hàng rào lưới trả lại diện tích 80m² (chiều ngang 2m, dài 40m) nằm trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010.
Xét thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010 diện tích 4862m² gồm 02 thửa đất: thửa 4327 diện tích 3.890m² đất trồng lúa và thửa 4329 diện tích 972m² đất trồng lúa.
Theo bà V, ông X trình bày, diện tích 4862m² bà nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị Kim H theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/4/2010. Sau đó bà V, ông X được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 vào ngày 21/10/2010 diện tích 4862m² gồm 02 thửa đất gồm: thửa 4327 diện tích 3.890m² đất trồng lúa và thửa 4329 diện tích 972m² đất trồng lúa. Bà V xác định diện tích đất đang tranh chấp với bà K1, ông N là diện tích 972m² đất trồng lúa thuộc thửa 4329 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010. Do đó thửa 4327 diện tích 3.890m² đất trồng lúa không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.2] Tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/01/2025 của Công ty TNHH Đ1 thể hiện các điểm 5, 3, 28, 30 có diện tích 412,3m² là phần đất đo đạc theo sự chỉ dẫn của bà Phan Thị V trong đó vị trí thuộc một phần thửa đất số 4329, tờ bản đồ số 03 (Hệ thống BD922/CT.UB) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 cấp cho bà V, ông X vào ngày 21/10/2010 nay thuộc thửa đất theo hệ thống BĐVN-2000, cụ thể:
- Các điểm 5, 47, 48, 30 có diện tích 368,6m² thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ số 64 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Các điểm 47, 3, 49, 48 có diện tích 19,5m² thuộc thửa đất số 46, tờ bản đồ số 64 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Các điểm 30, 48, 49, 28 có diện tích 24,2m² thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 64.
Xét lời khai người làm chứng ông Nguyễn Văn Ú xác định, ông bà ngoại của ông Ú có diện tích đất chung nhưng không nhớ rõ bao nhiêu, ông bà ngoại của ông Ú chia làm hai cho mẹ của ông tên Nguyễn Thị Q (Út Q1) và mẹ của bà Lê Kim K1 tên chín Lành, mỗi người một phần, diện tích chia làm hai không nhớ rõ bao nhiêu. Sau khi phân chia thì phần mẹ của ông Ú được hưởng 1 phần đất ruộng, phần của mẹ bà Lê Kim K1 cũng được hưởng 01 phần đất ruộng. Sau đó mẹ của ông Ú để lại cho ông hưởng, diện tích đất ông Ú được hưởng là hai thửa, một thửa diện tích 3,8 công đất nông nghiệp, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3890m², một thửa diện tích 972m² đất trồng lúa. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Ú được cấp có thửa đất diện tích 972m², phần này là giáp với đất bà K1, hiện nay đất giáp với mặt đường, đất này hiện nay không
còn trồng lúa mà đã cất nhà ở. Trong phần diện tích 972m² đất, mẹ của ông Ú đã bán cho hai người gồm: bà ba T và ông D, hai người này đã cất nhà ở ổn định, phần đất trống còn lại ông mới bán cho người em tên Bảy M. Sau này ông mới biết phần ông bán cho Bảy M thì bán lại cho bà V. Trong phần diện tích 972m² ông Ú được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mẹ của ông đã bán cho bà T1 một phần ngang khoảng 20m, sau đó bán cho ông D ngang khoảng 8m, phần còn lại ngang khoảng 12m là ông mới bán cho Bảy M, sau này ông mới biết Bảy M bán cho bà Trần Thị Kim H rồi bà H bán lại cho bà Phan Thị V. Trong phần đất diện tích 972m², phía giáp với bà K1 là có trụ đá rõ ràng, trụ đá này có từ rất lâu vì đây là ranh đã có từ đoàn đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ú.
[2.3] Bà V cũng xác định thửa 4329, diện tích 972m² đất trồng lúa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010, từ khi nhận chuyển nhượng đến nay bà sử dụng đúng như phần bà chỉ dẫn theo bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/01/2025 của Công ty TNHH Đ1, bà cũng đồng ý với diện tích đã đo đạc (thể hiện tại biên bản hòa giải ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới).
Từ đó cho thấy, diện tích 972m² thuộc thửa số 4329, bà V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trước khi bà V nhận chuyển nhượng thì diện tích 972m² chủ đất cũ đã chuyển nhượng cho hai người khác, phần còn lại mới chuyển nhượng cho ông Bảy M, ông Bảy M chuyển nhượng cho bà H sau đó bà H chuyển nhượng lại cho bà V. Do vậy, hiện trạng bà V đang quản lý, sử dụng theo sự chỉ dẫn của bà thể hiện tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/01/2025 của Công ty TNHH Đ1 diện tích 412,3m², trong đó các điểm 5, 47, 48, 30 có diện tích 368,6m² thuộc ranh theo bản đồ hành chính và thuộc một phần thửa 4329 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà V, ông X vào ngày 21/10/2010. Do vậy, diện tích đất thuộc thửa số 4329 hiện nay ông X, bà V đang quản lý, sử dụng chưa đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010.
[2.4] Bà V, ông X cho rằng bà K1, ông N lấn chiếm khoảng 80m² (ngang 02m, dài 40m). Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà V, ông X tại thửa số 4329 không đúng với diện tích bà V, ông X đang sử dụng như đã phân tích trên. Bà V, ông X khởi kiện căn cứ theo giấy chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà V, ông X vào ngày 21/10/2010, ngoài ra không có chứng cứ khác chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu khởi kiện của bà V, ông X là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Về chi phí tố tụng:
Bà V đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền 12.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà V, ông X không được chấp nhận nên bà V, ông X phải chịu 12.000.000 đồng chi phí tố tụng (đã nộp xong).
[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà V, ông X là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 26, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X về việc yêu cầu bà Lê Kim K1, ông Đào Văn N di dời hàng rào lưới trả lại cho bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X diện tích đã lấn chiếm là 80m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00399 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn X, bà Phan Thị V vào ngày 21/10/2010.
Về chi phí tố tụng:
Bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X phải chịu 12.000.000 đồng chi phí tố tụng (đã nộp xong).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị V, ông Nguyễn Văn X là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 170/2025/DS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 170/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1150/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị V, sinh năm 1959, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1949, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Châu Tuấn K, sinh năm 2000, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp P, xã C, tỉnh An Giang (giấy ủy quyền ngày 15/3/2024) (có mặt). 2. Bị đơn: Bà Lê Kim K1, sinh năm 1962, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang (có mặt). Ông Đào Văn N, sinh năm 1964, cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang (vắng mặt).
