|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG Bản án số: 17/2026/DS-ST Ngày: 20-01-2026 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân, ông Dương Văn Luỹ.
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2025/TLST-DS ngày 14/10/2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-DS ngày 08/12/2025, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
Địa chỉ trụ sở: số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1995, chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP V.
CCCD số 080095002425 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 26/4/2021.
Địa chỉ liên lạc: Tầng D, Số A T, phường L, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền số 2283/2025/UQ-VPB ngày 08/10/2025).
-
- Bị đơn: Ông Trương Quốc U, sinh năm 1993.
Căn cước công dân số: 089093010054.
Nơi cư trú: ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
(ông H có mặt; ông U vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Minh H đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/9/2023, Ngân hàng TMCP V, ông Trương Quốc U có ký Hợp đồng cho vay số LD2326900261, số tiền vay 785.700.000 đồng, mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng, thời hạn vay là 60 tháng, (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 05/9/2028) lãi suất: 16%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, trường hợp thời gian cho vay thực tế từ ngày giải ngân đến kỳ gần nhất chưa đủ 03 tháng/01 lần việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện vào ngày(ngày đầu quý là các ngày 01/10, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm) mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời gian cho vay nêu tại Khoản 2 của hợp đồng(+) biên độ 8%/năm, mức lãi suất tham chiếu nêu trên được xác định theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay không có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân tại V1 được niêm yết tại wedsite của V1, Nợ gốc sẽ được bên vay trả cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 05, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 05/11/2023, tổng cộng gồm 60 kỳ, phần lãi sẽ trả cho ngân hàng Đ 01 tháng/01 lần vào ngày 05 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 05/11/2023, đến ngày 05/8/2024 thì ông U vi phạm hợp đồng, không trả vốn, không trả lãi theo thỏa thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông U đã thanh toán cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 20/01/2026 là 650.205.306 đồng(trong đó gốc là 550.000.000đồng, nợ lãi là 100.205.306 đồng), hình thức thanh toán là thu nợ từ tài khoản của khách hàng mở tại V1.
Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 thì ông U còn nợ Ngân hàng số tiền 397.336.217 đồng, (trong đó nợ gốc 235.700.000 đồng, nợ lãi 161.636.217 đồng).
-Ngày 26/5/2022, ông U đã ký giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay tiêu dùng cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng điện tử số 325-P-9006909, ngày 26/5/2022 để vay số tiền 41.600.000 đồng. Mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống, Lãi suất: 47.88%/năm. Đến ngày 12/6/2024 ông U vi phạm nghĩa vụ, không trả lãi, vốn cho Ngân hàng, mặc dù phía Ngân hàng có điện thoại nhắc nhở nhiều lần nhưng ông U cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 là số tiền 76.941.674 đồng của hợp đồng thẻ (trong đó nợ gốc 35.407.064 đồng, nợ lãi 41.534.610 đồng).
Nay Ngân hàng yêu cầu ông U phải thanh toán toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 20/01/2026 là 474.277.891. đồng (trong đó nợ gốc 271.107.064 đồng, nợ lãi 203.170.827 đồng) của hai hợp đồng. Kể từ ngày 21/01/2026 ông U còn phải tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, theo đúng thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1.
Bị đơn ông Trương Quốc U vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình bày:
Tài liệu do Toà án thu thập được: Tại phiếu xác minh về tình trạng cư trú của người tham gia tố tụng: Được biết ông Trương Quốc U, sinh năm 1993 số định danh cá nhân là 089093010054, đăng ký thường trú tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang hiện nay ông U có sinh sống tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật, xác định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Quốc U có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 20/01/2026 là 474.277.891đồng (trong đó nợ gốc 271.107.064 đồng, nợ lãi 203.170.827 đồng) của hai hợp đồng.
Kể từ ngày 21/01/2026 ông U còn phải tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, theo đúng thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại xã B, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: ông Trương Quốc U là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín dụng:
Ngày 26/9/2023, Ngân hàng và ông U có ký Hợp đồng cho vay số LD2326900261, số tiền vay 785.700.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng, thời hạn vay là 60 tháng, (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 05/9/2028) lãi suất: 16%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, trường hợp thời gian cho vay thực tế từ ngày giải ngân đến kỳ gần nhất chưa đủ 03 tháng/01 lần việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện vào ngày(ngày đầu quý là các ngày 01/10, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm) mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời gian cho vay nêu tại Khoản 2 của hợp đồng(+) biên độ 8%/năm, mức lãi suất tham chiếu nêu trên được xác định theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay không có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân tại V1 được niêm yết tại wedsite của V1, Nợ gốc sẽ được bên vay trả cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 05, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 05/11/2023, tổng cộng gồm 60 kỳ, phần lãi sẽ trả cho ngân hàng Đ 01 tháng/01 lần vào ngày 05 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 05/11/2023, đến ngày 05/8/2024 thì ông U vi phạm hợp đồng, không trả vốn, không trả lãi theo thỏa thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông U đã thanh toán cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 20/01/2026 là 650.205.306 đồng(trong đó gốc là 550.000.000đồng, nợ lãi là 100.205.306 đồng), hình thức thanh toán là thu nợ từ tài khoản của khách hàng mở tại V1. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 thì ông U còn nợ Ngân hàng số tiền 397.336.217 đồng(trong đó nợ gốc 235.700.000 đồng, nợ lãi 161.636.217 đồng).
Ngày 26/5/2022, ông U đã ký giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay tiêu dùng cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng điện tử số 325-P-9006909, ngày 26/5/2022 để vay số tiền 41.600.000 đồng. Mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống, Lãi suất: 47.88%/năm. Đến ngày 12/6/2024 ông U vi phạm nghĩa vụ, không trả lãi, vốn cho Ngân hàng. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 20/01/2026 là số tiền 76.941.674 đồng của hợp đồng thẻ (trong đó nợ gốc 35.407.064 đồng, nợ lãi 41.534.610 đồng).
Xét thấy, hợp đồng tín dụng số LD2326900261 ngày 26/9/2023, hợp đồng, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng Đ1, ngày 26/5/2022, được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Quá trình giải quyết vụ án ông U vắng mặt nhưng tại biên bản làm việc ngày 12/10/2025, ông U thừa nhận còn nợ ngân hàng tiền vay nhưng hiện tại hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, thu nhập lo cho gia đình và con nhỏ không đảm bảo, hiện không có khả năng chi trả cho Ngân hàng, sẽ sắp xếp sớm nhất trả cho Ngân hàng V2 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc ông Trương Quốc U trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 474.277.891đồng (trong đó nợ gốc 271.107.064 đồng, nợ lãi 203.170.827 đồng) của hai hợp đồng tính đến ngày 20/01/2026 và lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay số LD2326900261, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng Đ1 đã ký kết.
[3] Về án phí:
Ông Trương Quốc U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Vank) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vank) đối với bị đơn ông Trương Quốc U về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Trương Quốc U trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 397.336.217 đồng của hợp đồng vay số LD2326900261,(trong đó nợ gốc 235.700.000 đồng, nợ lãi 161.636.217 đồng) tính đến ngày 20/01/2026.
Ông U còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận của hợp đồng cấp tín dụng số LD2326900261 ngày 26/9/2023. Từ ngày 21/01/2026 cho đến khi thanh toán xong số tiền trên.
Buộc ông Trương Quốc U trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền 76.941.674 đồng của hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng điện tử số 325-P-9006909(trong đó nợ gốc 35.407.064 đồng, nợ lãi 41.534.610 đồng) tính đến ngày 20/01/2026
Ông U còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận của hợp đồng, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng Đ1, ngày 26/5/2022. Từ ngày 21/01/2026 cho đến khi thanh toán xong số tiền trên.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Quốc U phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số LD2326900261 ngày 26/9/2023 và hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng điện tử số 325-P-9006909, ngày 26/5/2022 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Vank) không phải chịu án phí.Trả lại Ngân hàng 9.252.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0003017 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Ông Trương Quốc U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 22.971.116 đồng.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |
Bản án số 17/2026/DS-ST ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2026/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
